Cung điện Đan Dương & tâm huyết của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân

15:38 17/10/2016

Được sự cho phép của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, từ ngày 7/10/2016, Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên Huế đã phối hợp với Viện Khảo cổ học mở hố thám sát thăm dò dấu vết lăng mộ vua Quang Trung tại gò Dương Xuân (Trường An, TP Huế) với diện tích 22 m2.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân

Mặc dù đã ở cái tuổi 80 nhưng từ khi các hố thám sát được mở cho đến khi kết thúc (7-15/10/2016), hầu như ngày nào nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cũng xuất hiện ở khu vực chùa Thuyền Lâm, chùa Vạn Phước… thuộc phủ Dương Xuân xưa.

Ông cho biết: Tôi rất vui bởi dấu vết, hiện vật xuất hiện trong 5 hố thám sát đều có dấu hiệu một quần thể kiến trúc với đời sống cao cấp khớp với chứng minh của mình trong quá trình nghiên cứu công trình: Đi tìm dấu tích Cung điện Đan Dương-sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung.

Mở đầu cho hành trình 30 năm Đi tìm dấu tích Cung điện Đan Dương, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc lại chuyện sau năm 1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào thăm Huế nói với trí thức Huế rằng: “Sau ngày thống nhất đất nước may ra còn có Huế để đối ngoại về văn hóa”.

Câu nói đó cho thấy một điều: Di sản văn hóa Huế đóng một vai trò rất quan trọng đối với đất nước..

Tâm đắc với điều này, từ đó cho đến nay nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã bỏ công sưu tập tư liệu, nghiên cứu về văn hóa Huế. Trong hơn 60 đầu sách đã được xuất bản, có hai công trình mà ông dày công hơn cả, đó là Đi tìm dấu tích thời niên thiếu Bác Hồ ở Huế (NXB Văn học 2003) và Đi tìm dấu tích Cung điện Đan Dương – sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung (NXB Thuận Hóa 2007, tái bản năm 2015).

Đối với công trình Đi tìm dấu tích Cung điện Đan Dương – sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho biết: Do lăng mộ vua Quang Trung đã bị triều Nguyễn “tận pháp trừng trị” và cấm thần dân nhắc đến, vì thế những nhà nghiên cứu tiền bối hoạt động thời Nguyễn không dám đả động đến lăng mộ vua Quang Trung. Nếu vô tình gặp phải thì tránh, thậm chí có người còn làm nhiễu thông tin, đánh lạc hướng đi nữa.

Để giải mã "bí ẩn lịch sử" này sau khi đọc lại những lời chú, lời dẫn trong thơ văn của các trọng thần thời Quang Trung là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã đề ra cho mình hướng nghiên cứu mới.

Trong bài thơ “Cảm Hoài” Ngô Thì Nhậm sáng tác năm 1792 khi được cử sang Trung Quốc báo tang vua Quang Trung và cầu phong cho vua Cảnh Thịnh, ở câu 8 đã viết: Đan Dương cung điện nhật tam thu (trông về Cung điện Đan Dương một ngày coi bằng ba thu), tác giả đã chú thêm một thông tin cho cụm từ Cung điện Đan Dương là “Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho hay: Nhờ Ngô Thì Nhậm nên chúng ta biết được cung điện của vua Quang Trung tên là Đan Dương. Sau khi vua Quang Trung mất, được triều Quang Toản giữ bí mật táng vua ngay trong Cung điện. Từ đó Cung điện Đan Dương trở thành lăng Đan Dương hay Đan Lăng;

Ngoài bài thơ Cảm Hoài, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân trưng dẫn nhiều tác phẩm của Ngô Thời Nhậm có nhắc đến Đan lăng, như bài Khâm vãn Đan Dương Lăng (Kính viếng lăng Đan Dương); bài Sóc vọng thị tấu nhạc, Thái Tổ miếu, cung ký (Ngày lễ rằm, mồng một tấu nhạc miếu Thái Tổ, kính ghi); bài Tòng giá bái tảo Đan Lăng, cung ký (Theo xa giá đi bái tảo Đan Lăng, kính ghi).

Bên cạnh đó, sách Đại nam nhất thống chí và Phan Huy Ích viết Bùi Đắc Tuyên - Thái sư thời Quang Toản chiếm chùa Thiền Lâm ở, “nha thuộc” triều Quang Toản phải dọn đến ở chung quanh chùa. Chùa Thiền Lâm, theo nghiên cứu của Nguyễn Đắc Xuân trở thành cung đình đầu triều Quang Toản (1792-1795).

Phan Huy Ích từ Bắc vào ở trong một ngôi chùa dùng làm nhà trọ gần chùa Thiền Lâm để đêm đêm làm việc với Thái sư Bùi Đắc Tuyên.

Ban ngày Phan Huy Ích không ngủ được, ông bày rượu ra uống, “bọn Tiểu giám giữ lăng thường đến hầu rượu” Phan.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân nhận định: Lăng vua mới có Tiểu giám giữ, lăng vua phải ở gần chùa Thiền Lâm thì bọn Tiểu giám mới thường đến hầu rượu Phan Huy Ích được, bởi “Nhà của quan Thái sư (Bùi Đắc Tuyên) là chùa Thiền Lâm cũ, nằm phía Nam sông Hương.

Từ những chỉ dấu này, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân tiếp tục tìm hiểu về chùa Thiền Lâm, bởi theo ông, nếu tìm được chùa Thiền Lâm thì có thể tìm được phủ Dương Xuân đã mất tích.

Đại Nam Nhất Thống Chí soạn thời Tự Đức và sơ đồ các chùa Phật trong Hàm Long Sơn Chí của Điềm Tịnh Cư Sĩ ra đời từ cuối thế kỷ XIX xác định địa điểm tọa lạc của chùa Thiền Lâm gốc nằm trên đường Điện Biên Phủ hiện nay giữa một bên là Hậu Lộc Từ và một bên là nhà 145 Điện Biên Phủ thuộc ấp Bình An (Phường Trường An hiện nay) chứ không phải tại xã An Cựu như Đại Nam Nhất Thống Chí thời Duy Tân đã viết.

Do chùa Thiên Lâm gốc đã bị triệt hạ để làm Nam Giao Tân lộ (đường Điện Biên Phủ hiện nay) nên người ta đã tạo một ngôi chùa nhỏ trên khoảng đất phía Tây Nam chùa cũ (150 Điện Biên Phủ ngày nay) cũng lấy tên gọi là Thiền Lâm.

Chùa Thiền Lâm hiện nay trước kia chỉ là một cái am nhỏ không đề biển tên chùa, hằng ngày không dóng chuông. Những người giữ chùa phần lớn là các thầy tu bán thế có vợ có con, chùa được xem như một chùa tư.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho biết: Năm 1988, Tỳ kheo Chơn Trí từ chùa Tường Vân ra mua lại chùa Thiền Lâm của một vị thầy tu bán thế. Ông nầy có hàng chục người con.

Sau khi tiếp nhận, Tỳ kheo Chơn Trí cùng 6 đệ tử đào đất trồng rau màu thì phát hiện dưới lòng đất có hàng vạn viên gạch vồ, đá táng cột lớn, đá làm bậc cấp và chân bia, các tấm bia đều bị đục hết chữ hoặc mài nhẵn.

Bao giờ Long Thọ hết vôi
Thiền Lâm hết gạch mới thôi làm chùa!


Điều đó chứng tỏ ở đây có những kiến trúc bị đập phá, chôn sâu dưới đất.

“Tỳ-kheo Chơn Trí còn cho biết phía Bắc vườn chùa Thiền Lâm người ta đào móng xây nhà phát hiện nhiều hố chôn tập thể. Chứng tỏ đã có những cuộc giao chiến đẫm máu ở đây” - Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân lưu ý.

Sau khi có đầy đủ tư liệu về chùa Thiền Lâm, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân tập trung tìm hiểu về phủ Dương Xuân.

Đại Nam Nhất Thông Chí cho biết Phủ Dương Xuân trên gò Dương Xuân; phía nam gò Dương Xuân có đàn Nam Giao; nói cách khác phía bắc đàn Nam Giao có phủ Dương Xuân.

Hải Ngoại Kỷ Sự cho biết năm 1695 Thích Đại San được Nguyễn Phúc Chu tiếp ở Phủ Dương Xuân, quá nửa đêm chưa cho về. Đến khi về đến chùa Thiền Lâm trống canh ba vừa điểm (cũng là nửa đêm). Thời gian đi từ phủ Dương Xuân về chùa Thiền Lâm không bao lâu chứng tỏ phủ Dương Xuân tọa lạc gần chùa Thiền Lâm.

Tài liệu của phương Tây cũng cho biết vào năm 1749 Pierre Poivre – một nhà buôn Pháp đã đến phủ Dương Xuân gặp chúa Võ Vương. Ông cho biết phủ Dương Xuân được xây dựng trên một cái gò (élévation). Cánh phía Bắc nhìn về sông Hương, cánh phía Nam có chỗ cao chỗ thấp, ở cuối có một cái hồ (étang). Dùng bản đồ đi từ chùa Thiền Lâm, tìm một điểm cao (gò) gần chùa Thiền Lâm có đặc điểm như Pierre Poivre đã viết. Địa điểm đó là nơi tọa lạc chùa Vạn Phước ngày nay thuộc phường Trường An, Tp Huế. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí viết về chùa Tuệ Lâm và địa bạ thành lập năm 1907, tên mới của gò Dương Xuân từ đầu thế kỉ XIX đã được đổi thành gò ấp Bình An. Nghiên cứu tư liệu và thực địa, thấy trên gò ấp Bình An này có những biểu hiện không bình thường như sau:

Ở trên gò có nhiều kiến trúc đã bị đập phá chôn sâu dưới đất: Các đá táng cột trong chùa Vạn Phước, đá táng cột chôn sâu trên con đường từ chùa Vạn Phước xuống hồ sen bên suối Tiên, đá lát sàn nhà trong nhà ông Nguyễn Hữu Oánh. Chứng tỏ phủ Dương Xuân ở đây đã bị đập phá chôn vùi xuống đất.

Đại Nam Nhất Thống Chí viết: “Tự kinh binh loạn kim thất kỳ xứ”. Có nghĩa phủ Dương Xuân mất tích vì binh loạn Tây Sơn năm Bính Ngọ (1786).

Giải phóng Phú Xuân trong tay quân Trịnh, quân Tây Sơn chiếm tất cả những dinh thự cung điện ở Đô thành Phú Xuân, trong đó có phủ Dương Xuân. Mười bốn năm sau - trước cuộc tấn công của quân đội Nguyễn Ánh - quân Tây Sơn dưới triều Quang Toản/Cảnh Thịnh rút chạy khỏi Phú Xuân, chắc chắn quân đội của Quang Toản không kịp phá phủ Dương Xuân và chôn sâu xuống đất được. Thế thì ai làm cho phủ Dương Xuân bị xóa sổ để ngày nay không còn ai biết phủ Dương Xuân từng tọa lạc nơi nào? Người xóa sổ phủ Dương Xuân không ai khác là nhà Nguyễn. Vì sao nhà Nguyễn lại xóa sổ một công trình của Liệt thánh của mình? Vì phủ Dương Xuân đã bị quân Tây Sơn chiếm ở. Lực lượng nào của Tây Sơn đã ở phủ Dương Xuân?

Theo Đại Nam Thực Lục lăng mộ Quang Trung đã bị quật phá. Lăng mộ vua Quang Trung ở trong Cung điện Đan Dương tức là Cung điện Đan Dương ở gần chùa Thiền Lâm đã bị quật phá.

Nghiên cứu thơ văn cổ, văn học dân gian ở địa phương này, thực địa ấp Bình An còn thấy trên gò ấp Bình An (khu vực chùa Vạn Phước) và khu vực chung quanh gò suốt thế kỷ XIX cấm dân đến ở. Riêng dưới thời Minh Mạng, bà Ngọc Ngôn - con gái thứ 10 của vua Gia Long được đến trùng tu ngôi chùa có tên Tuệ/Huệ Lâm. Ngôi chùa này tồn tại cho đến năm 1949. Nhưng không ai biết chùa được xây dựng thời nào, do ai khai sơn.

Bãi tha ma trước chùa Vạn Phước xuôi xuống suối Tiên có tên là Cồn Bông Sứ. Vì trước năm 1988 còn nhiều gốc sứ cổ thụ. Chứng tỏ nơi đây từng là nơi thờ cúng hay lăng mộ của quan lại vua chúa.

Sau chùa Vạn Phước có một bãi tha ma với nhiều mồ mã vô danh từ xưa đến nay dân chúng gọi là “mã loạn”.

Trong vùng cấm địa ở chung quanh gò ấp Bình An (từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX có nhiều giếng quy mô, sâu, nước trong sạch, bị bỏ hoang, dân chúng địa phương gọi là “giếng loạn”. Chứng tỏ trong khu vực nầy đã có nhiều người của nhà nước sinh sống. Ông Phủ doãn Thừa Thiên Phó bảng Nguyễn Đình Hiến, viết một tấm bia về một cái “Giếng loạn” với 2200 từ, ông đặt câu hỏi “Giếng nầy ai đào, đào từ khi nào, vì sao bỏ hoang?”

Trong văn học dân gian ở vùng nầy có câu: “Chiều chiều mây kéo về kinh/ Ếch kêu giếng loạn thảm tình đôi ta”.

Tùng Thiện Vương (hoàng tử thứ 10 của vua Minh Mạng nhà thơ nổi tiếng của Triều Nguyễn) viết cái gò ấp Bình An có Suối Tiến chảy ngang qua, ông viết là “Loạn sơn” (núi loạn).

Như vậy Phủ Dương Xuân và Cung điện Đan Dương theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân là một. Theo thời gian, phủ Dương Xuân thời các chúa Nguyễn là tiền thân của Cung điện Đan Dương thời Quang Trung. Nói cách khác vua Quang Trung đã sử dụng phủ Dương Xuân làm Cung điện Đan Dương. Do đó Cung điện Đan Dương bị quật phá hủy diệt hết dấu tích nên phủ Dương Xuân mất tích đúng như Đại nam nhất thống chí triều Nguyễn đã viết.

Với công trình của mình, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã tìm được dấu tích vùng cung phủ Dương Xuân - Đan Dương trong khu vực gò ấp Bình An từ chùa Thiền Lâm qua đến chùa Vạn Phước ngày nay.

Tóm lại, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân: vào năm 1680, chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) cho xây dựng một cung phủ ở địa điểm kín gió, cao ráo ở trên gò Dương Xuân bên bờ nam sông Hương. Cung phủ được đặt tên là phủ Dương Xuân. Đến năm 1786, Nguyễn Huệ sau khi giải phóng Phú Xuân trong tay ba vạn quân Trịnh, ông đã chọn phủ Dương Xuân làm dinh phủ của mình. Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, phủ Dương Xuân được xây dựng lại và đặt tên là cung điện Đan Dương. Bốn năm sau vua Quang Trung ngã bệnh và mất vào ngày 29.7.1792. Để giữ kín sự kiện này với những lực lượng thù địch, triều Quang Toản / Cảnh Thịnh đã quyết định giữ bí mật ngày mất và táng vua Quang Trung ngay trong khuôn viên cung điện Đan Dương. Từ đó, cung điện Đan Dương trở thành lăng Đan Dương của vua Quang Trung. 

Từ cuối năm 1801 đến cuối năm 1802, Nguyễn Ánh về lại Phú Xuân, ông cho quật phá lăng mộ vua Quang Trung và phá dỡ cung điện Đan Dương chôn sâu xuống đất. Suốt thế kỷ XIX, khu vực gò Dương Xuân được đổi thành gò ấp Bình An và cấm dân chúng đến ở. Đại Nam Nhất Thống Chí triều Nguyễn công bố “Tự kinh binh loạn kim thất kỳ xứ” (Từ sau khi bị binh hỏa đến nay, chỗ ấy mất tích không biết ở vào chỗ nào”.

Với công trình nghiên cứu của mình, qua tư liệu và thực địa khám phá, các hiện vật kiến trúc dân chúng phát hiện được trong hàng chục thập kỷ qua, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã xác định được nơi tọa lạc của phủ Dương Xuân - tiền thân của cung điện Đan Dương trên gò Dương Xuân/gò ấp Bình An thuộc phường Trường An ngày nay.

Những dấu vết, hiện vật biểu hiện khảo cổ học vừa qua tại các hố thám sát theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho thấy giữa công trình nghiên cứu và biểu hiện khảo cổ học đã khớp nhau.

Tuy nhiên, phạm vi ranh giới Cung điện Đan Dương như thế nào, quần thể kiến trúc Cung điện có bao nhiêu nhà, các kiến trúc to nhỏ ra sao, dấu tích còn lại của lăng Đan Dương trong Cung điện Đan Dương chỗ nào… nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cậy nhờ ngành sử học và ngành khảo cổ học Việt Nam giải quyết để công trình nghiên cứu có giá trị lịch sử đạt được kết quả cuối cùng.  

Phạm Hữu Thu
 

Kết thúc cuộc thăm dò khảo cổ ở gò Dương Xuân, phường Trường An- TP Huế do Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên - Huế và Viện Khảo cổ học thực hiện theo Quyết định của Bộ VH,TT&DL, chiều 15/10, Chủ trì cuộc thăm dò, PGS.TS Bùi Văn Liêm - Viện phó Viện Khảo cổ học cho biết, sau khi đào đến tầng đất sinh thổ tại 5 hố thăm dò, đoàn đã tìm thấy một số hiện vật bằng đất, đá, gạch, ngói, vữa, gốm, sứ, sành, kim loại... liên quan đến các hoạt động của con người ở các giai đoạn lịch sử khác nhau; các thông tin về địa tầng, di tích và các đặc điểm khác...
Phát hiện bức tường rộng tới 5,5m tại hố số 5 thuộc khuôn viên ngôi nhà 13/120 đường Điện Biên Phủ-Huế.

Đáng chú ý nhất là đã phát hiện tại hố số 5 (ở khu sân nhà 13/120 đường Điện Biên Phủ và nhà bên cạnh) có một nền đá gồm nhiều phiến đá chồng lên nhau, bên trên có vữa và đất đắp hình dạng như một bức tường thành rộng tới 5,5m; chiều dài vẫn còn phát triển.

Toàn bộ hiện vật phát hiện trong quá trình thăm dò khảo sát tại gò Dương Xuân sẽ được đưa về Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế bảo quản, lau chùi và sắp xếp trước khi chuyên gia đánh giá, ba tháng sau sẽ công bố kết quả trước khi hoàn thiện hồ sơ để báo cáo Bộ VH,TT&DL.

Riêng những hiện vật thu được trên bề mặt đất, Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế sẽ phối hợp với nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân tổ chức trưng bày để người dân và du khách thưởng lãm.




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • CHÂU THU HÀ

    Trong những năm qua, xây dựng văn hóa doanh nghiệp (VHDN) đã và đang được các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng quan tâm thực hiện.

  • PHƯỚC VĨNH

    Nói đến những tiềm năng phát triển của Huế là nói đến các yếu tố thiên nhiên, lịch sử văn hóa, trong đó có yếu tố sông, núi, cỏ cây và con người; là nhắc đến những bài thơ sâu lắng, những giai điệu mượt mà…

  • LGT: Cuốn sách Florette ou la rivière des parfums của tác giả T. Trilby(*) được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Chuyện bên dòng sông Hương(**). Bối cảnh câu chuyện xảy ra ở Huế và vùng phụ cận vào thập niên 1920 của thế kỷ XX.

  • PHAN THUẬN AN

    Nghệ thuật cung đình là những loại hình nghệ thuật gắn bó thiết thân với sinh hoạt tinh thần và vật chất của giới cầm quyền tại kinh đô dưới các triều đại quân chủ ngày xưa.

  • PHAN TÂN

    Trong năm 2018 vừa qua, ngoài kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh cũng đã triển khai những chương trình đột phá, công trình trọng điểm, tập trung lãnh đạo, tạo tiền đề, động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển theo hướng nhanh, bền vững. Các chương trình này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương…

  • NGUYỄN VĂN CƯƠNG - NGUYỄN VĂN KHÁNH

    Trong chuyến đi điền dã khảo sát di tích tại khu vực Phường Thủy Xuân, TP Huế. Chúng tôi tình cờ phát hiện một di chỉ cổ nằm lẫn khuất trong những tán cây rậm rạp trên vườn đồi của làng Dương Xuân thượng trước đây. Vạch lá dò dẫm tìm vào, chúng tôi mới nhận ra nơi mình đặt chân đến chính là một Văn Miếu, nơi thờ phụng vị Thánh về Văn, người mà được hậu thế tôn vinh là Vạn thế Sư biểu (người thầy của muôn đời), Đức Khổng Tử. Ngôi miếu nằm lọt thỏm trong những tán lá, bụi cây. 

  • HỒ VĨNH

    Đại bác là một từ dùng chung cho tất cả các loại trọng pháo hay súng lớn. Tiền thân của chúng là những máy ném đá (Thạch pháo) ra đời cách đây 1.000 năm. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII ở Việt Nam đã xuất hiện các loại pháo bằng đồng và pháo bằng sắt mà ngày nay chúng ta thường gọi là súng thần công.

  • KIM THOA

    Chè bán ban ngày, ban đêm. Chè gánh, chè xách, chè ăn trên bờ, chè thưởng thức dưới đò. Huế bán đủ thứ chè, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, nhưng ít thấy chè hột sen.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN

    Hoàng tử Cảnh (1780 -1801) là con trưởng của vua Gia Long. Trong thời gian chống nhà Tây Sơn, hoàng tử Cảnh đã theo Bá-đa-lộc sang Pháp cầu viện cho họ Nguyễn. Hoàng tử Cảnh theo Thiên chúa giáo và được giám mục Bá-đa-lộc rất thương yêu.

  • THƠM QUANG - THANH BIÊN

    Trong khối tài liệu hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV có khá nhiều tư liệu liên quan đến trường Bách Công xưa (tức trường Cao đẳng Công nghiệp Huế ngày nay). Bên cạnh tài liệu tiếng Pháp thuộc phông Tòa Khâm sứ Trung kỳ, chúng tôi cũng xin được cung cấp thêm một số thông tin quan trọng về trường Bách Công xưa được ghi chép trong các bộ chính sử của triều Nguyễn.

  • NGUYỄN THÁI SƠN*     

    Đồng chí Nguyễn Chí Diểu (1908 - 1939) là nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam.

  • TRẦN ĐÌNH HẰNG - LÊ ĐÌNH HÙNG  

    Trải qua nhiều vấn nạn của thiên tai, địch họa mà đến nay, tài liệu nghiên cứu về thời chúa Nguyễn Đàng Trong rất hiếm hoi. Vì vậy, tài liệu lưu trữ từ gia tộc sẽ góp phần thiết thực để soi rọi một số chi tiết bổ sung cho chính sử.

  • LÊ VĂN LÂN

    Huế là đô thị không chỉ trong nước mà cả thế giới tôn vinh với nhiều danh hiệu cao quý. Nhưng đứng trước những danh hiệu này, bản thân người Huế cũng thấy đang còn nhiều khoảng cách lớn.

  • LÊ QUANG THÁI

    Ngày xuân còn dài, xin kể vài mẫu chuyện dê tiêu biểu trên đất kinh kỳ văn vật cốt chỉ mua vui chốc lát trong hương vị của ngày Tết cổ truyền.

  • PHAN THUẬN AN

    Cũng như các triều đại quân chủ khác trong lịch sử Việt Nam, triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) đã lập ra tại kinh đô một cơ quan chuyên trách về y tế, gọi là Thái Y Viện, để chăm lo sức khỏe cho hoàng gia và điều hành công việc chữa bệnh cho mọi người trong nước.

  • TRẦN VIẾT ĐIỀN

    Đồi Dương Xuân ở nam sông Kim Trà (sông Hương) từng có phủ Dương Xuân là mặc định nhưng vì đồi lại lớn rộng, có nhiều phần nhấp nhô theo phương thẳng đứng, uốn éo theo bình đồ nên đồi có nhiều gò, cồn. 

  • TRẦN ANH SƠN

    Huế mà chúng tôi nhắc đến ở đây là xứ Huế ngày xưa, thuở còn là "Đô thành Thuận Hóa” của Chúa Nguyễn.

  • CAO CHÍ HẢI  

    Nghệ thuật sân khấu, âm nhạc vô cùng phong phú và đặc sắc, nhiều lễ hội cổ truyền và thuần phong mỹ tục tiêu biểu của người Việt được lưu truyền đến Nghệ thuật múa của dân tộc Việt xuất hiện cách đây khoảng 4000 năm.