Cơ chế dân gian trong hoạt động truyền thông ở các thôn bản người dân tộc thiểu số

09:38 11/02/2020

NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG - TRẦN HỮU SƠN  

Truyền thông rất quan trọng trong việc quản lý vận hành phát triển xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ngày nay, các thôn bản miền núi đang đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới thì truyền thông càng có ý nghĩa quyết định trong việc làm chuyển biến nhận thức, hành vi của người dân.

Ảnh: internet

Tuy nhiên, ở các thôn, bản đồng bào dân tộc thiểu số đã hình thành một cơ chế vận hành truyền thông dân gian, có nhiều nét đặc thù khác với đô thị và đồng bằng. Tìm hiểu cơ chế vận hành dân gian sẽ góp phần ứng dụng văn hóa dân gian trong phát triển mới tổ chức truyền thông hiệu quả. Vì vậy, cần nghiên cứu tính đặc thù trong truyền thông vùng dân tộc thiểu số là yêu cầu cần thiết hiện nay.

1. Người truyền tin

Cơ chế truyền tin của truyền thông bao gồm ba yếu tố:



Trong xã hội tiền nông nghiệp và nông nghiệp, mọi sự ứng xử với thiên nhiên và xã hội đều dựa vào kho tàng kinh nghiệm của cộng đồng. Do đó, các già làng - những người tích lũy được nhiều kinh nghiệm trở thành những người có uy tín nhất trong cộng đồng. Vai trò của già làng, trưởng làng, bản rất quan trọng trong mọi công việc đối nội, đối ngoại của làng, bản. Họ trở thành người phát tin quan trọng nhất của cộng đồng.

Ở vùng Tây Nguyên hoặc những vùng cư dân nông nghiệp nương rẫy, vai trò của người già hết sức quan trọng. Làng của người Ba-na, có một bộ máy tổ chức điều hành mọi công việc là hội đồng già làng, đứng đầu là một vị chủ làng (hoặc là gốc làng). Hội đồng già làng, chủ làng điều hành mọi công việc sản xuất, chiến đấu, tôn giáo dựa trên sự nhất trí của toàn thể dân làng, ông trưởng làng do dân bầu ra (hoặc cha truyền con nối) nhưng ông ta chỉ là người đại diện cho dân làng, khi có những việc quan trọng đều phải xin ý kiến của họ, già làng không đồng ý, chủ làng không được phép thực hiện. Mọi sự kiện trong làng (dù vui hay buồn) đều có dự can dự của già làng. Già làng là cố vấn cao nhất về phong tục tập quán, về kinh nghiệm sản xuất, về đối nhân xử thế cho mỗi cho mỗi thành viên và cho cả cộng đồng. Già làng ủng hộ mọi việc tuyên truyền vận động của cán bộ đều diễn ra trôi chảy.

Ở vùng người Hmông, trưởng bản có vai trò quan trọng. Họ thường là trưởng dòng họ lớn trong bản. Hiện nay, trưởng bản có xu hướng trẻ hóa. Họ là những người có gia đình giỏi làm ăn, có trình độ hiểu biết nhất định. Họ có nhiệm vụ điều hành công việc của làng “giao” (Tuy nhiên xã hội người Hmông cũng là một xã hội trọng lão, các già làng bao gồm các bậc cha chú các dòng họ trong “giao”) luôn được trưởng bản tôn trọng hỏi ý kiến. Cái lý của người Hmông là người ít tuổi phải luôn lắng nghe ý kiến của người nhiều tuổi. Người Hmông có tục ngữ: “gừng già, gừng càng cay - người già hiểu điều hay”. Do đó, ý kiến của già làng đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực sản xuất, nhất là xử lý những vấn đề có liên quan đến phong tục, quan hệ giữa các dòng họ, vấn đề di dịch cư… ý kiến của già làng, trưởng “giao” luôn có tính định hướng, quyết định đến truyền thông của làng bản, tác động đến mọi gia đình trong cộng đồng làng.

Ở vùng người Thái, Mường, tinh thần trọng lão cũng luôn được đề cao. Trong thiết chế xã hội cổ truyển, bên cạnh “Chẩu mường” hay các ông lang còn có hệ thống “cố vấn” giúp việc như hệ thống “các bô lão toàn mường của người Thái, hoặc các “Âu” của người Mường. Họ là những người giúp việc của bản, mường. Ngày nay, các hội đồng bô lão này không còn những truyền thống trọng lão vẫn còn tồn tại, trưởng bản khi quyết định những công việc lớn đều phải hỏi ý kiến các già làng.

Tóm lại, xã hội cổ truyền của các làng bản vùng đồng bào dân tộc ít người, theo Từ Chi có sơ đồ 3 đường tròn đồng tâm: 1- trưởng bản, 2- các già làng, 3- là những người dân trong làng, bản (chủ hộ gia đình).


Thiết chế này vận hành theo một truyền thống dân chủ: trưởng bản lãnh đạo nhưng tôn trọng ý kiến của các già làng và các chủ hộ gia đình cũng có vai trò nhất định. Truyền thống này tạo thành tâm lý trọng lão, tôn trọng người đứng đầu làng, bản. Người đứng đầu làng bản hay già làng đều có uy tín. Tiếng nói quan trọng đến mọi vấn đề của bản, làng. Họ là người phát tin lan tỏa đến cộng đồng.

Truyền thông trực tiếp của trưởng bản, già làng, những người có uy tín trong cộng đồng có tác dụng tạo dựng dư luận nhanh chóng. Dư luận của cộng đồng làng bản vừa có chức năng điều hòa hành vi (như đã trình bày phần trên), vừa có chức năng giáo dục. Khi trình độ dân trí ở các làng bản vùng miền núi còn thấp thì dư luận của cộng đồng sẽ đóng vai trò của người hướng dẫn các ứng xử của mỗi thành viên. Từ đó, họ tự nhận thức, tự sửa chữa những thiếu sót của bản thân, thực hiện đúng quy định của cộng đồng. Dư luận của làng, bản thông qua hai kênh quan trọng là trưởng bản (đại diện chính quyền), già làng (đại diện nguyện vọng chung của dân) sẽ trở thành công cụ quản lý con người cụ thể. Nó ràng buộc mọi thành viên vào cơ chế vận hành của làng, bản. Mỗi cá nhân không chỉ chịu sự giám sát, tác động của gia đình mà còn chịu sự kiểm tra, đánh giá của cả cộng đồng làng, bản thông qua dư luận.

Như vậy, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nguồn phát tin trực tiếp quan trọng nhất là già làng, trưởng thôn.

2. Lực lượng tư vấn trung gian (Người hướng dẫn dư luận)

Ở các thôn bản vùng dân tộc thiểu số hình thành nhiều mạng lưới quan hệ tạo ra các nhóm sở thích, nhóm phi quan phương. Đó là các nhóm thêu thùa, học hát dân ca, nhóm dệt vải - nhuộm chàm, hái lượm của phụ nữ… Đó cũng là nhóm đi săn, nhóm đan lát, nhóm làm nghề thủ công của nam giới trong các làng bản cổ truyền. Ngày nay, khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã xuất hiện các nhóm đi buôn, nhóm xe ôm, nhóm bốc vác cho khách du lịch. Đặc điểm nổi bật trong cơ chế truyền thông ở các làng bản là thông tin của trưởng bản, già làng (hay của các kênh thông tin đại chúng) khi đến với người dân đều thông qua “màng lọc” của các nhóm sở thích, nhóm phi quan phương này. Ở mỗi nhóm đều hình thành tự phát những người hiểu biết, có kinh nghiệm hơn hoặc tháo vát trong đường làm ăn. Họ dần dần trở thành người tư vấn, “hướng dẫn dư luận”2. Những “người hướng dẫn dư luận” này sẽ tư vấn, giải thích các thông điệp truyền tin của già làng, trưởng bản hoặc các kênh thông tin đại chúng. Ngược lại, người nhận tin (các thành viên trong thôn, bản) không nhận thông tin trực tiếp từ già làng, trưởng bản mà lại nhận qua sự giải thích, tư vấn của những người hiểu biết trong nhóm. Những thông điệp của người phát tin truyền đến người nhận tin đều thông qua “màng lọc” người tư vấn. Vì vậy, vai trò của người tư vấn trong nhóm rất quan trọng đối với cơ chế truyền thông dân gian. Họ là những người “giải mã” thông điệp. Tiếng nói của họ đóng vai trò quyết định trong việc tạo dựng dư luận xã hội ở từng nhóm sở thích, ở từng tổ chức phi quan phương. Vì vậy, trong các thôn, bản đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, nhà quản lý không chỉ chú trọng vai trò của già làng, trưởng bản mà còn phải định hướng được dư luận đối với những “người hướng dẫn dư luận” trung gian.

3. Người nhận tin

Người nhận tin ở các thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số là các chủ hộ, các thành viên gia đình. Khả năng nhận tin, tiếp thu thông điệp đều phụ thuộc vào đặc điểm của văn hóa tộc người, trình độ học vấn, trình độ biết tiếng phổ thông… Ở các thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số dù đã dày công tiến hành sự nghiệp giáo dục nhưng vẫn tồn tại tình trạng mù chữ, chưa đọc thông viết thạo tiếng phổ thông. Bình quân ở vùng đồng bào dân tộc ít người có đến 22% dân số từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, biết viết ngôn ngữ phổ thông. Ví dụ, chỉ có 46,6% người Hmông, 34,4% người La Hủ, 42,8% người Lự, 43,8% người Mảng, 49,8% người Cơ Lao, 48,2% người Brâu từ 15 tuổi trở lên là biết đọc, biết viết chữ phổ thông. Trong đó, tỷ lệ nữ mù chữ, không biết đọc, biết viết chữ phổ thông nhiều hơn. Chẳng hạn, tỷ lệ nữ người Mông biết đọc, biết viết chữ phổ thông chỉ chiếm 30,9% dân số.

N.T.V.H - T.H.S  
(SHSDB35/12-2019)

----------------
1. Trần Hữu Quang biên soạn, Xã hội học về truyền thông đại chúng, Trường Đại học mở Tp. Hồ Chí Minh, tr.14.
2. Trần Hữu Quang biên soạn (năm), Xã hội học về truyền thông đại chúng, Trường Đại học mở Tp. Hồ Chí Minh, tr.22.





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN NHÃ TIÊN                         Bút ký"Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ. Hưng tộ diên trường ức vạn xuân". Nghĩa là: đất nước Hồng Lam sau ta năm trăm năm sẽ là một thời kỳ hưng thịnh vạn mùa xuân.Không hiểu những tương truyền về "sấm ký" Trạng Trình "ứng nghiệm" đến dường nào, đâu là nguyên bản và thực hư ra sao? Có điều, chúng tôi đang viếng thăm làng quê Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo - quê hương của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đúng vào cái khoảng thời gian "sau năm trăm năm" ấy, và nhất là vào giữa cái kỳ gian mà đất nước đang từng ngày" Hưng tộ diên trường ức vạn xuân".

  • TRẦN HOÀNGTrong tiếng Việt, từ "Văn vật" là một từ thuộc nhóm từ gốc Hán và cùng tồn tại song song với các từ: Văn hoá, Văn hiến, Văn minh. Người xưa thường dùng từ này để nói, viết về truyền thống văn hoá của một vùng đất, hoặc của một địa phương. Chẳng hạn, lâu nay, cư dân đồng bằng Bắc bộ đã có câu: "Thăng Long là đất ngàn năm văn vật". Song có lẽ từ "Văn vật" xuất hiện nhiều nhất trong các cụm từ "làng văn vật", "danh hương văn vật". Điều này cho thấy từ xa xưa, tổ tiên ta đã rất quan tâm đến "văn hoá làng" và "làng văn hoá".

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử loài người, có những bức tranh, những pho tượng lấp lánh toả ánh hào quang lặng im của chúng trong sự lâu bền của năm tháng. Có những ký ức có thể thi gan cùng vĩnh cửu. Nhưng có lẽ, ngôn từ có sức mạnh riêng mà không một thách thức nào, dù là của không gian hay thời gian có thể làm nhạt nhoà những âm vang của nó. Tất nhiên, một khi nó đã đi vào trái tim và khối óc của con người. 1034 chữ của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một trong những áng ngôn từ có sức sống bền vững với thời gian như thế.

  • TRẦN QUỐC TOẢN Tôi sinh ra và lớn lên giữa làng Hến bé nhỏ bên bờ sông La xã Đức Tân (tức Trường Sơn ngày nay) huyện Đức Thọ - tỉnh Hà Tĩnh. Qua sự nhọc nhằn của cha, vất vả của mẹ đã đút mớm cho tôi từng thìa nước hến, bát cháo hến để rồi tôi lớn dần lên.

  • HỒ TƯNằm trên dải cát ven phá Tam Giang, từ xưa làng tôi cũng đã có một ngôi đình. Đến năm 1946, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, Chính quyền cách mạng đã vận động nhân dân triệt phá ngôi đình để tránh cho Tây khỏi làm nơi trú đóng.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Đất nước ta, miền Bắc và miền nối liền nhau bằng một dải đất dài và hẹp gọi là miền Trung. Dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới phía Tây như một cột sống vươn những chi nhánh dài ra tận biển Đông, làm thành những đèo, trong đó hiểm trở là đèo Hải Vân.

  • PHẠM TIẾN DUẬT1.Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, khi nghiên cứu về dân tộc học, có luận điểm cho rằng, trong quá trình định cư dần dà từ Bắc vào Nam, các cộng đồng, một cách tự nhiên, hình thành từng vùng thổ âm khác nhau.

  • PHAN THUẬN AN.Nhiều người từng đến Lăng Cô hoặc nghe nói đến địa danh Lăng Cô, nhưng ít ai biết rằng vua Khải Định là người phát hiện ra khu du lịch nghỉ mát này.Có thể nói vua Khải Định là ông vua thích du lịch nhất trong số 13 vị vua triều Nguyễn (1802- 1945). Trong đời mình, nhà vua đã đi du lịch nhiều nơi tring nước và cả nước ngoài nữa.

  • Thiền tông, nhờ lịch sử lâu dài, với những Thiền ngữ tinh diệu kỳ đặc cùng truyền thuyết sinh động, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Á đông xưa và thấm nhuần văn hóa Tây phương ngày nay nên đã cấu thành một thế giới Thiền thâm thúy, to rộng.

  • Anh tôi đang giàu lên với nghề nuôi rắn độc, bị con hổ mang hỏi thăm vào tay. Mấy tiếng đồng hồ cáng tắt qua các cánh rừng đến bệnh viện huyện được cứu sống, nhưng vết thương bị hoại tử, hơn tháng sau mới xuất viện, tiêu tốn hơn chục triệu. Năm sau anh tôi lại bị chính con hổ mang ấy hỏi thăm ở tay kia. Lần này thì tôi đánh xe đi mời thầy thuốc rắn bản Lúng.

  • Đó là làng Lệ Mật thuộc xã Việt Hưng, (thị trấn Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội). Làng này có nghề nuôi bắt rắn, tới nay đã qua 900 năm.

  • Các hoàng đế nước Việt xưa phần lớn giỏi chữ Hán, biết thơ văn, trải Lý, Trần, Lê, Nguyễn đời nào cũng có các tác phẩm ngự chế quý giá. Nhưng tất cả các tác phẩm ấy đều nằm trong quỹ đạo Nho Giáo, dùng chữ Hán và chữ Nôm để diễn đạt cảm xúc về tư tưởng của mình.

  • "Sang Xuân ta sẽ ăn Tết khai hạ vào ngày mùng 7 tháng Giêng".     Vì sao vua Quang Trung dám tuyên bố cả quyết như trên trước mặt ba quân? Tất cả bí mật của cuộc hành binh khôi phục Thăng Long đều được "gói trọn" trong một chiếc bánh chưng.

  • LGT: Nhà văn Thái Vũ với những cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như Cờ nghĩa Ba Đình, Biến động - Giặc Chày Vôi, Huế 1885... nay đã gần 80. Tuổi già sức yếu song ông đã hoàn thành tập Hồi ức, gồm 4 phần dày dặn. Trong đấy phần II: HUẾ - QUẢNG NGÃI VÀ LK5 là những trang hồi ức đầy “xốn xang” trước và sau CM tháng Tám.Sông Hương xin trích đăng một phần nhỏ gửi tới bạn đọc nhân kỷ niệm ngày CM tháng Tám thành công và Quốc khánh 2 – 9. 

  • Nếu kể cả những công trình nghiên cứu văn hóa, địa lý, lịch sử có đề cập đến các địa danh ở các tỉnh Trung Trung Bộ thì xưa nhất phải kể đến “ Ô Châu cận lục” của Dương Văn An đời Mạc chép về sông núi, thành trì, phong tục của  xứ Thuận Quảng, từ Quảng Bình đến Quảng Nam. Kế đến là “ Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn tập hợp những tài liệu về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa trong thời gian làm đô đốc xứ Thuận Hóa cuối thế kỷ 18.