Chuyện của ngày xa

08:51 17/10/2008
XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

Ngày ấy đọc tên Lê Thị K. trên báo chí tôi bỗng có linh cảm đây là K. -cô gái tôi quen biết ở Vũng Tầu sau ngày giải phóng miền . Tôi khao khát được gặp K. lấy một lần để chứng minh cho điều linh cảm của mình. Nhưng cuộc sống bận bịu với bao công việc tôi chẳng có thời gian vô thành phố Hồ Chí Minh để gặp K. - Nghĩ đi rồi cũng phải nghĩ lại: vượt qua ngót ngàn cây số vô tìm kiếm một người mà mình chưa xác định rõ có phải đó là người thân không kể cũng kỳ. Không khéo người ta lại bảo mình là kẻ khùng. “Thấy người sang bắt quàng làm họ”.

Được tin đoàn nhà văn thành phố Hồ Chí Minh ra Nha Trang dự trại sáng tác; trong số mười lăm người có tên nhà thơ Lê Thị K., tôi liền phóng xe máy sang ngay. Người đầu tiên tôi gặp là nhà văn Trần Thanh Giang, trưởng đoàn. Nhà văn Trần Thanh Giang lúc này đang có mặt ở hội trường nhà sáng tác làm công việc chuẩn bị cho buổi lễ khai mạc trại. Sau mấy câu chào hỏi xã giao, tôi vô đề ngay:
- Xin anh cho biết: Hiện giờ K. ở phòng nào?
Nhà văn Trần Thanh Giang suy nghĩ giây lát rồi vui vẻ nói:
- Ở phòng nào thì mình không rõ, muốn biết cụ thể phải hỏi lễ tân. Nhưng hiện giờ K. cùng với đoàn đang đi tham quan chiều mới về.

Chiến dịch tổng tiến công nổi năm một ngàn chín trăm bảy lăm, Sư đoàn ba Sao Vàng của tôi đang đóng quân ở Bình Định, được Bộ Tư lệnh Mặt trận điều vô giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận và phối hợp với Binh đoàn Hương Giang tiến vô giải phóng Sài Gòn, dinh luỹ cuối cùng của chính quyền Sài Gòn.
Sư đoàn tiến quân vô tới Long Khánh thì vấp phải sức kháng cự điên cuồng của địch. Chúng có trọng pháo, có máy bay yểm trợ. Quân ta hy sinh khá nhiều ở đây. Bên cạnh quân chủ lực, địch còn có cả một lực lượng dân vệ dày đặc, tuyệt đối trung thành với Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà; bọn họ toàn dân Bắc di cư vô năm 1954. Bộ đội của Sư đoàn phải chiến đấu cam go, tổn nhiều sinh lực mới chiếm giữ được từng tấc đất ở trong tầm kiểm soát của địch. Ngày ấy tôi đang trực ban tác chiến ở Sở chỉ huy Sư đoàn, đóng ở một làng trong bìa rừng của huyện Long Khánh.  Hàng giờ lại được nghe báo cáo của các Tiểu đoàn, Trung đoàn ngoài mặt trận điện về: “Dân Bắc 54 ở đây chống đối dữ lắm. Xin Bộ tư lệnh cho nã pháo lớn vô làng, giải vây cho bộ đội xông lên!”. Sau mỗi bức điện như vậy, Bộ Tư lệnh lại có điện chỉ thị  xuống: “Không được giết dân. Phải khôn khéo kéo dân về phía mình để lộ mặt địch ra mà đánh”.

Sau hai ngày, hai đêm chiến đấu quyết liệt với địch; sáng ngày 28-4 quân ta mới giải phóng được tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trưa ngày 30-4 xe tăng của ta tiến vô Dinh Độc Lập. Miền hoàn toàn giải phóng. Sư đoàn về đóng quân ở thành phố Vũng Tàu, củng cố lực lượng, giúp địa phương xây dựng chính quyền.
Sau chiến tranh hầu hết quân trang bộ đội đều bị rách bởi đạn bom. Quân nhu chưa kịp cấp phát. Có những chiến sĩ áo quần cũ lại rách không dám ra phố. Trong hoàn cảnh như vậy, tôi một mình vô một xóm dân ở ngoại thành xem có gia đình làm nghề may, nhờ may giúp đồ cho bộ đội. Vừa ra khỏi thành phố chừng một cây số về phía , tôi nghe có tiếng máy may kêu lách cách từ trong một ngôi nhà nhỏ nằm nép mình dưới hàng dương xanh. Tôi mạnh dạn vô nhà. Trong nhà lúc này có một thiếu nữ chừng ngoài 20 tuổi đang mải mê ngồi đạp máy. Thoạt nhìn thấy tôi bận đồ bộ đội cô gái khẽ rùng mình, gương mặt tròn xinh bỗng nhiên biến sắc, ngước nhìn tôi vẻ sợ sệt. Tôi cúi đầu chào:
- Chào cô! Tôi là bộ đội, đơn vị đóng quân ở gần đây. Tôi muốn nhờ cô sửa một số bộ quân trang?
Cô gái rời khỏi bàn may ra ngoài cửa, giọng nhỏ nhẹ lễ phép:
- Mời... anh vô nhà...
Nghe giọng nói tôi biết cô gái người Bắc. Tôi lân la làm quen:
- Cô quê tỉnh nào ngoài Bắc?
- Ba má em ở Thanh Hoá. Nhưng ở huyện, xã mô em không biết. Năm năm tư ba má vô đây mới sinh em.

Hai chúng tôi ngồi nói chuyện một hồi lâu. Cô gái trở lại bình tĩnh, không còn vẻ sợ sệt như lúc đầu. Tôi nhờ cô may lại chiếc mùng bị lủng vài lỗ và một chiếc áo xuân hè bị rách ở cổ tay. Cô may rất cẩn thận, miếng vá rất đẹp đủ biết cô may có nghề. May xong cô gấp đồ cẩn thận, cho vô một chiếc túi giấy làm sẵn trao cho tôi. Tôi gửi tiền công nhưng cô từ chối: “Em may giúp anh thôi. Đáng bao nhiêu mà lấy công?” Tiễn tôi ra về, cô đưa ra tận đầu ngõ vẻ thẹn thùng: “Anh về nói với các anh trong đơn vị, có đồ cần sửa chữa gì mang ra đây em làm giúp cho. Đừng ngại. Em tên là Tỉnh”. Về đơn vị, anh em trong trung đội thấy tôi kiếm ra chỗ may máy, liền gom tất cả những quân trang bị lủng của cả Trung đội nhờ tôi mang đi vá lại.

Ngày hôm sau, ăn sáng xong, tôi được Trung đội trưởng miễn cho đi lao động ngoài đường phố giúp dân làm vệ sinh, mang quân trang của anh em ra tiệm may. Tôi gói cả thảy hơn 10 bộ quân trang vào trong một bao nilon lớn, vác ra nhà Tỉnh. Nhà Tỉnh lúc này có thêm một cô gái cũng trạc tuổi Tỉnh. Cô này khác Tỉnh ở chỗ gương mặt trái xoan, nước da trắng, đẹp như nàng Bạch Tuyết trong truyện cổ tích. Bị hút hồn bởi sắc đẹp của cô gái, tôi chưa kịp lên tiếng thì Tỉnh đã nhỏ nhẹ nói:
- Giới thiệu với anh bộ đội, đây là K., bạn thân của Tỉnh. K. đang học dở dang Đại học Văn Khoa. K. họ tên đầy đủ là Lê Thị K., còn anh tên là gì bữa hôm chưa cho em hay?
- Tôi tên Nguyễn Văn Thành, anh em trong đơn vị gọi tôi là Thành Thơ. Chẳng là trong đơn vị mỗi lần sinh hoạt văn nghệ anh em thường giới thiệu tôi lên ngâm thơ.
- Vậy anh Thành làm thơ hay lắm phải không? - K. hỏi.
- Hay ho gì đâu, võ vẽ làm cho vui ấy mà. Dân tộc mình ai chẳng biết làm thơ, con cháu cụ Nguyễn Du mà.

Từ phút đó câu chuyện của ba chúng tôi được tập trung chủ yếu vô đề tài văn thơ. Tỉnh và K. yêu cầu tôi đọc thơ của các nhà thơ Tản Đà, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Xuân Diệu... K. đọc cho nghe thơ của Hàn Mạc Tử, Nguyên Sa... và cả thơ của Tago. K. có giọng đọc thơ rất hấp dẫn. Giọng Bắc pha chút giọng nghe ngồ ngộ, dễ thương. Nghe tôi đọc thơ, nói chuyện văn học, K. và Tỉnh rất chăm chú. K. nói: “Trước đây chưa biết gì Bộ đội Bắc Việt, bọn này cứ nghĩ: Bộ đội Bắc Việt chỉ biết súng đạn với đánh nhau. Không ngờ các anh lại giỏi văn  thơ nhường vậy”.
Sau buổi đó, tiếp theo tuần nào tôi cũng ra nhà Tỉnh, Tỉnh lại kêu K. đến, ba chúng tôi có dịp ngồi tâm sự, bàn luận văn chương. Nhiều bữa chúng tôi ngồi với nhau cả ngày. Những buổi trò chuyện như vậy đã gỡ bỏ cái hàng rào ngăn cách giữa sự phân biệt Bắc với , giữa hai từ “Việt Cộng”. Chúng tôi  xưng hô với nhau bằng cách xưng hô quen thuộc của miền Bắc “cậu với tớ”. Tình bạn của ba chúng tôi được se kết từ đó.

Chuyện tôi có quan hệ thân thiết với các cô gái vùng ngoại ô không hiểu sao đến tai Ban chỉ huy Đại đội. Đại đội trưởng Quang cho liên lạc gọi tôi lên gặp Ban chỉ huy đại đội. Tôi hiểu ngay thế nào cũng có chuyện chẳng lành. Bởi từ lâu Quang không ưa cánh lính trong đơn vị lại có chút máu văn nghệ. Cho họ là những kẻ lãng mạn, quan điểm lập trường không vững vàng.
Tôi vừa bước vô cửa Ban chỉ huy Đại đội đã thấy Quang ngồi sẵn ở bàn làm việc chờ tôi, mặt đằng đằng:
- Nghe anh em nói đồng chí có quan hệ với những phần tử xấu bên ngoài phải không?
- Xin anh cho biết ai nói tôi có quan hệ với những “phần tử xấu bên ngoài”?
- Ai nói đồng chí không cần biết, đồng chí chỉ cần trả lời tôi có hay không thôi.
- Quan hệ với dân thì có, những phần tử xấu thì không. Bởi những người tôi quan hệ họ là học sinh, sinh viên, có tư tưởng tiến bộ, yêu văn thơ. Họ không phải là người xấu.

Tôi trả lời dứt khoát. Mặt Quang đỏ phừng phừng, đứng dậy, dang tay đập mạnh xuống mặt bàn làm cho bộ ấm trà tung lên, rớt xuống sàn nhà. Quang nghiêng người về phía tôi, hai hàm răng nghiến lại, tiếng nói rít trong cổ họng:
- Quan điểm giai cấp của đồng chí để ở đâu mà đi quan hệ với dân vùng địch. Đồng chí có biết dân vùng này ở đâu vô không? Nói cho đồng chí rõ: dân ở đây đều là dân Bùi Chu - Phát Diệm, ở Ba Làng, Thanh Hoá vô cả đây. Những kẻ đã chống đối chế độ ta đến cùng. Mấy ngày trước đây có bao nhiêu bộ đội ta chết dưới họng súng của bọn chúng? Những lão già bảy, tám mươi tuổi, râu tóc bạc trắng, khi quân ta tiến vô nhà, hắn chết rồi mà trong tay vẫn còn ôm chặt khẩu AR15 chĩa ra ngoài đường. Trên vách còn hằn lên dòng chữ: “Không đội trời chung với Cộng sản”.

Cuộc tranh luận giữa tôi và Đại đội trưởng Quang diễn ra khá gay gắt. Tôi thấy cần phải nói rõ cho Quang hiểu về quan điểm của mình:
- Miền đã hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất - Bắc một nhà mà đồng chí còn phân biệt Bắc với , địch với ta. Chính sách hoà hợp, hoà giải dân tộc đã học, đồng chí quên rồi sao? Vẫn nét mặt giận dữ, Quang nói:
- Đồng chí có biết đang nói chuyện với ai không? Tôi là Đại đội trưởng, cấp trên của đồng chí, là Phó Bí thư Chi bộ; tôi nói với đồng chí, đồng chí phải hiểu đó là mệnh lệnh, là tư tưởng chỉ đạo của Đảng. Đồng chí không được cãi lại.
Mặc cho Quang giận dữ, tôi vẫn bình tĩnh nói:
- Đồng chí là cấp trên của tôi, nhưng nói phải tôi nghe, nói sai tôi có quyền không nghe.
Thấy đuối lý, Quang dùng quyền lực của mình ra áp dụng với tôi. Quang cho gọi Trung đội trưởng và Trung đội phó tôi lên, bắt tôi tống giam vô một cô-nét, một kiểu nhà giam cơ động của địch để lại. Tôi bị giam ở trong đó ròng rã hai ngày, hai đêm, mỗi ngày chỉ cho ăn một bữa. Quang lệnh cho Trung đội phải giam tôi ở trong đó cho đến khi nào nhận thấy khuyết điểm của mình mới được tha.

Ở trong chiếc cô-nét, rộng một mét vuông, cao hai mét làm bằng thép, tối như bưng, chỉ hở có một khe cửa nhỏ để hít thở không khí bên ngoài, nóng như lò thiêu. Tôi chỉ biết nằm co chân mà thở, mồ hôi tuôn ra như tắm. Những giây phút này tôi mới hiểu thế nào là bị giam cầm. Tôi thầm cảm phục những chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, giam cầm trong chuồng cọp hàng chục năm ngoài Côn Đảo, Phú Quốc...

Hai ngày ở trong cô-nét tôi ngỡ thời gian dài vô tận. Tôi thèm khát cuộc sống tự do bên ngoài, tôi tự trách mình hẩm hiu. Đất nước được giải phóng, cả nước, mọi người sống trong cảnh thanh bình, hít thở bầu không khí tự do còn mình thì... Trời ơi! Chỉ vì yêu văn thơ, có quan hệ với bạn văn mà phải chịu tội giam cầm sao? Thật vô lý. Tôi căm giận Quang, một gã học ngắn, chỉ biết lấy quyền lực ra dọa nạt cấp dưới. Từ lâu nay tôi đã nghe nhiều người nói về Quách Văn Quang, một Đại đội trưởng không có năng lực lãnh đạo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ không có mà lãnh đạo cả một Đại đội Thông tin vô tuyến điện, một binh chủng khoa học kỹ thuật trọng  yếu của quân đội. Quang chỉ biết chỉ huy Đại đội bằng cảm tính, bằng mệnh lệnh, không tin tưởng vào cấp dưới. Ai làm trái ý bị Quang trù úm. Tất cả những điều đó tôi chỉ mới nghe, chưa thấy biểu hiện một cách cụ thể. Riêng chuyện không thích những người có máu văn thơ thì tôi biết khá rõ. Bởi ngày tôi về nhận công tác ở Đại đội một năm trước đây đã đôi lần đụng chạm với Quang trong việc tôi đề xuất xin kinh phí làm báo tường. Quang chẳng những không chi tiền mà còn không cho làm. Giờ đây bị Quang trừng phạt, tôi mới nhận ra những điều đồn đại về Quang là đúng.

Đêm đầu tiên nằm trong cô-nét, một người bạn của tôi được giao nhiệm vụ canh gác đến ngồi bên ngoài cô-nét, ghé vô cửa tâm sự nhỏ to với tôi:
- Ông mới về Đại đội này một năm, ông không biết nhiều về Quang đâu. Tôi là người cùng xã với Quang, tôi biết rõ từng chân tơ kẽ tóc của hắn. Hắn, ngày ở nhà là trung đội trưởng dân quân, ngoài bốn mươi tuổi mới vô bộ đội. Vô bộ đội nhờ có ông chú là Trung Đoàn trưởng nên hắn không hề làm lính một ngày nào. Nhập ngũ hôm trước, hôm sau được phong cấp hàm Thượng sĩ và làm Trung đội phó ngay. Khi đi Nam hắn được điều về đại đội Thông tin của mình làm Đại đội phó, sau mấy tháng Đại đội trưởng hy sinh trong  một trận càn hắn nghiễm nhiên lên chức Đại đội trưởng. “Hắn có biết chi về nghiệp vụ thông tin mà làm Đại đội trưởng - tôi ghé miệng vô khe cửa hỏi. Bạn tôi thở dài một tiếng nói tiếp:
- Ông ngây thơ quá, làm lãnh đạo thì cần chi phải biết chuyên môn; chỉ cần hai chữ: “Đảng viên” là làm gì cũng được. Chẳng những ở binh chủng ta mà ở binh chủng khác cũng vậy. Nghe nói ở ngoài dân chính cũng thế - Nhiều viện, ngành có lãnh đạo ít người có chuyên môn nghiệp cao rất phổ biến. Cứ tình trạng này kéo dài thì tai hại vô cùng.
Câu chuyện của bạn tôi còn dài thì phải ngưng bởi nhẽ có người ra đổi gác.

Chuyện tôi bị Đại đội trưởng Quang bắt giam không hiểu sao Tỉnh và K. hay được, liền nói với tổ trưởng dân phố vào đơn vị xin tha cho tôi. Bà tổ trưởng dân phố là một chiến sĩ Biệt động thành vô gặp Ban chỉ huy đại đội giải thích: Tỉnh và K. là hai nữ sinh tốt, trước đây có tham gia phong trào học sinh, sinh viên chống lại chế độ Mỹ nguỵ. Quang vẫn không tin, nhất quyết không chịu tha cho tôi. Cuối cùng bà phải lên gặp Sư trưởng Nguyễn Khắc Lân. Sư trưởng Lân người vốn yêu văn thơ, quý trọng những cán bộ chiến sĩ có tri thức. Từ lâu Sư trưởng Lân rất quý tôi. Những lần đi tác chiến, ông đều chỉ thị xuống Đại đội điều tôi lên làm liên lạc riêng cho ông. Sau khi nghe bà tổ trưởng dân phố trình bày, Sư trưởng trực tiếp xuống Đại đội ra lệnh thả tôi ra. Chỉ thị cho Đại đội trưởng Quang làm kiểm điểm về việc bắt người giam trái phép.

Tôi được thả, Tỉnh, K. mừng lắm. Tỉnh tổ chức một buổi liên hoan ở tại nhà, mời tôi và khá đông bạn bè của Tỉnh, K. đến dự. Chúng tôi trò chuyện, đọc thơ, ca hát cho nhau nghe mãi tới khuya, trăng hạ tuần lên cao mới tàn cuộc. Sáng hôm sau Sư đoàn rời Vũng Tàu nhận nhiệm vụ ra biên giới phía Bắc chiến đấu. Tôi phải xa Tỉnh và K. từ đó. Do hoàn cảnh công tác chúng tôi không có điều kiện liên lạc với nhau.

Ngay hôm khai mạc trại, theo giấy mời, lễ khai mạc bắt đầu vào hồi 10 giờ. Nhưng nóng lòng được gặp K. nên tôi đến sớm hơn một tiếng. Vừa tới Nhà sáng tác đã thấy anh chị em trại viên có mặt đông đủ ở tiền sảnh đón khách. Đứng ở xa tôi thấy một phụ nữ bận bộ đồ trắng, nét mặt tươi cười đang đi đi lại lại ngoài hành lang với chiếc máy ảnh nhỏ trên tay. Có lẽ chị đang chọn góc độ để chụp hình. Tôi đứng ở phía sau cửa ra vô quan sát. Đúng là K. rồi, gương mặt trái xoan ngày nào, làn da trắng này, chỉ có khác là gương mặt già đi đôi chút. Dĩ nhiên là phải già rồi, sao còn trẻ được - Ba mươi năm rồi cơ mà!
Đợi cho người phụ nữ bấm máy xong mấy kiểu hình, tôi đi đến bên, lựa cách gợi chuyện:
- Xin lỗi... chị có phải...
Tôi chưa dứt câu người phụ nữ đã nhanh nhẹn nói:
- Tôi là K. - Lê Thị K.
- Chị K. có quen ai tên Tỉnh ở Vũng Tàu không?
- Tỉnh là bạn rất thân của K.?
Nghe nhắc đến tên Tỉnh, bỗng dưng K. sững người, nhìn thẳng vào mặt tôi, im lặng giây lát, trầm tư suy nghĩ. Đột nhiên K. reo lên:
- Anh là... Thành phải không?
- Đúng, tôi là Thành – “Thành Thơ” đây.
K. nắm lấy tay tôi, mắt rớm lệ:
- Trời ơi! Chúng mình xa nhau ba mươi năm rồi còn chi. K. và Tỉnh mỗi lần gặp nhau vẫn không quên nhắc về Thành.
Hai chúng tôi cùng nhau ra ngồi ngoài bãi biển tâm sự. Từng đợt gió ngoài khơi xa thổi vô mát rượi. Biển Nha Trang sáng thu nay dường như đẹp hơn lên...
                                        Nha Trang, thu 2006
       X.T

(nguồn: TCSH số 220 - 06 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.

  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.

  • LÊ HUỲNH LÂMNhững ngày mưa gió lê thê của mùa đông ngút ngàn vừa đi qua, những trận lụt bất thường gây nên bao tan tác, để lại những vệt màu buồn thảm trên gương mặt người dân nghèo xứ Huế, các con đường đầy bùn non và mịt mùng từng đám bụi phù sa, những vết thương còn âm ỉ trong hồn người…

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCâu chuyện tôi sắp kể với các bạn dưới đây không phải là một câu chuyện thuộc huyền sử về lửa cỡ như ngọn lửa Prométe hay biểu tượng lửa trong đạo Hinđu, hay lửa trong Kinh Dịch tương ứng với phương nam, màu đỏ, mùa hè...

  • PHAN VĂN LAITrong cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Huế đã nổi lên là một chiến trường xuất sắc, được Đảng, Chính phủ tặng danh hiệu: “Tiến công nổi dậy, anh dũng kiên cường”, được Bác Hồ khen ngợi: “Bác rất vui mừng vừa qua Huế đã đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi to lớn” và được cả nước tự hào về Huế.