NGUYỄN KHẮC PHÊ
Gọi là “Chuyện bên lề” vì chủ trương xây Khu Lưu niệm nhà thơ Tố Hữu (KLNTH) là của UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi “bỗng dưng” bị lôi vào cuộc do đã viết bài “Ngày Xuân thăm quê nhà thơ Tố Hữu” đăng trên báo Văn nghệ số Tết Mậu Tuất - 2018.
Khuôn viên căn nhà ở quê nội nhà thơ Tố Hữu. Ảnh chụp Xuân 2017
Sau khi bài được đăng, một bạn văn gọi điện cho tôi nói rằng: Có người “thắc mắc” Nguyễn Khắc Phê (NKP) là em ông Viện mà sao lại viết bài này? Một người khác lại bảo: Chẳng lẽ NKP không biết Tố Hữu đã viết những câu thơ tán dương Cải cách ruộng đất. Gần đây, khi quyết định của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về kế hoạch xây (KLNTH) khá hoành tráng trên khu đất rộng hơn bốn ngàn mét vuông với kinh phí 28 tỷ đồng, trên không ít trang mạng đã có nhiều ý kiến “phản biện” khá gay gắt - trong đó một số trang đã đăng “thư Nguyễn Khắc Viện (BSNKV) gửi Tố Hữu” năm 1986, dễ làm người đọc nghĩ rằng BSNKV cũng “hạ bệ thần tượng” nhà thơ từ hơn 30 năm trước! Nhà văn Phạm Viết Đào (PVĐ) còn viết bài “Nguyễn Khắc Phê em trai học giả Nguyễn Khắc Viện “đầu têu” xây khu lưu niệm Tố Hữu”. Bài viết có rất nhiều sai lạc (sẽ viết ở đoạn sau) ở đây chỉ nói một điều: tôi là người đầu tiên đưa lên một tờ báo Trung ương vấn đề này, chứ trước đó, nhiều đồng chí ở địa phương đã nghĩ đến việc xây KLNTH và năm 2014, nhà văn Nguyễn Quang Hà cũng đã nêu vấn đề tương tự trên báo Thừa Thiên Huế.
Đến nay thì UBND tỉnh đã có quyết định… Nhưng chúng ta đều biết, đã có những công trình quan trọng hơn của đất nước sau khi quyết định, đã phải dừng lại hay thay đổi. Đó cũng là chuyện thường - thậm chí là đáng mừng. Kế hoạch xây dựng KLNTH cũng không ngoại lệ. Nếu xem dư luận xã hội là “kênh tham khảo” hay “chuyện bên lề” thì chuyện đáng nói trước hết là thông tin mà tôi biết: gia đình nhà thơ Tố Hữu cũng không đồng thuận với xây dựng khá quy mô và đã gửi thư cho UBND tỉnh, UBND huyện Quảng Điền, cảm ơn sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương nhưng không muốn sử dụng công quỹ xây dựng khu lưu niệm như dự kiến vì“Thừa Thiên Huế là tỉnh còn nhiều khó khăn. Quảng Điền, quê nội của nhà thơ Tố Hữu càng là huyện nghèo lại thiên tai liên miên...”; lá thư còn dẫn hai câu thơ của Tố Hữu viết về Bác Hồ: “Mong manh áo vải hồn muôn trượng/ Hơn tượng đồng phơi những lối mòn” để các nhà chức trách hiểu quan điểm của nhà thơ Tố Hữu về cách tưởng niệm những người đã mất…
Các “chuyện bên lề” khác là những trao đổi trên mạng xã hội; trong thời đại ngày nay, không thể xem thường nhưng cũng cần phân biệt mức độ đúng - sai. Do là “người trong nhà”, xin nói trước đến “Bức thư Nguyễn Khắc Viện gửi Tố Hữu” năm 1986 mà một số trang mạng đưa lên gần đây, có thể hàm ý BSNKV không xem trọng nhà thơ Tố Hữu. Theo tôi, điều đó là sai với chủ đích của tác giả. BSNKV viết lá thư này chỉ để bày tỏ mong muốn Tố Hữu không tiếp tục ứng cử vào “Trung ương” để bảo vệ “sự nghiệp thơ trong lòng nhân dân.”
Lâu nay, đây chỉ là “tin đồn” hoặc hiểu ngầm là loại thông tin chưa được phổ biến. Một số bạn cũng đã hỏi tôi rằng, bức thư có thật không? 33 năm đã qua từ ngày ấy và chuyện cũng chẳng đáng phải giữ “bí mật”. Trong sách “Ước mơ & Hoài niệm” - Nguyễn Khắc Viện kể chuyện” (Nxb. Trí thức, 2017) BSNKV đã kể rõ việc này. Cuốn sách “Đãi cát lấy vàng” của tôi vừa xuất bản cũng đã công khai bức thư; vậy nên xin cung cấp nguyên văn để những ai cần tư liệu có thể sử dụng:
Ngày 30 - 11 - 1986 |
(Nguyên bản bức thư gia đình đã trao cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 3 lưu giữ).
Trong cuốn sách vừa dẫn, sau khi tóm tắt nội dung thư ở trên, BSNKV đã viết: “Không thấy thư trả lời của đồng chí Tố Hữu, và sau đó, đồng chí không trúng cử vào Trung ương nữa.”
Vấn đề cần nói thêm là việc các trang mạng đưa ra lá thư trên vào lúc này như là một bằng chứng để “hạ bệ thần tượng” nhà thơ theo xu hướng một số người nào đó, có đúng và thích hợp không? Xin nói thẳng là không. Lá thư chỉ góp ý Tố Hữu không nên ứng cử vào Trung ương để giữ uy tín “sự nghiệp thơ trong lòng nhân dân”. Chỉ một cụm từ này đã cho thấy BSNKV “trân trọng quý mến” nhà thơ như chính ông đã viết ở cuối thư.
Hơn nữa, trong Tuyển tập Văn học Việt Nam, bộ sách lớn xuất bản bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, BSNKV đã đánh giá thơ Tố Hữu một cách trân trọng: “Trong tác phẩm của Tố Hữu, bức tranh toàn cảnh rộng lớn của cuộc kháng chiến dân tộc và quần chúng được vẽ với những màu sắc rực rỡ nhất… Có thể nói rằng Tố Hữu là nhà thơ nổi tiếng duy nhất đã có thể hòa nhập với phong trào cách mạng, để trái tim mình đập cùng nhịp với quần chúng đang chiến đấu…”.
Như thế, theo tôi nghĩ, BSNKV không hề đánh giá thấp thơ Tố Hữu và hai vị, nếu có dịp “gặp nhau” ở “cõi khác” hay đang “bay lượn” xem bà con “đi chợ hoa, đi hội làng Gióng hay Đồng Kỵ” hẳn vẫn trò chuyện với nhau vui vẻ, thân ái… Do vậy, việc “mượn” lá thư trên để thêm phản ứng kế hoạch xây KLNTH là không chính đáng. Còn xây KLNTH như thế nào lại là vấn đề khác, tùy điều kiện cụ thể và quan niệm của cơ quan thực hiện. Nhân nhắc đến BSNKV (người mà nhà văn Phạm Viết Đào phong tặng là “đại trí thức” - và còn nhiều danh hiệu cao sang khác mà không chỉ giới trí thức mà cả “chính giới” phong tặng cho ông), xin giới thiệu “cách lưu niệm” BSNKV chỉ là một tấm biển đồng gắn trước nhà với các dòng chữ “ĐÃ SỐNG VÀ LÀM VIỆC NƠI ĐÂY” kèm một số “thông tin” chủ yếu nhất.
Chuyện bên lề trên mạng phổ biến hơn là một số người theo xu hướng “hạ bệ thần tượng”, đã dẫn thơ Tố Hữu ca ngợi “bác Mao, bác Xít”. Theo tôi, khi đánh giá sự nghiệp văn chương của một tác giả, cần nhìn toàn cục và công bằng. (Ở đây, xin được “mở ngoặc” nói thêm: Trong làng văn cũng như trong xã hội, NKP không là “cái đinh” gì để bênh che một tên tuổi như Tố Hữu; mặt khác, những ai theo dõi đường văn NKP trong nửa thế kỷ qua, cũng biết NKP không xu nịnh ai, thậm chí còn bị “tai nạn nghề nghiệp” vì viết những điều “không hợp ý” một số quan niệm ấu trĩ một thời (và không hề được ông Tố Hữu che đỡ!), nhưng với cái nhìn công bằng, NKP đã viết trong tập ký vừa xuất bản:
“Theo tôi, trước hết, đó không phải là THƠ; những tuyển thơ Tố Hữu về sau không có những bài đó; cũng có thể hiểu chính tác giả cũng muốn loại bỏ chúng. Con người không ai là Thánh; nhà thơ cũng là con người, có sai, có đúng, có lầm lạc và nhận thức là một quá trình, chịu sự tác động của hoàn cảnh xã hội, lịch sử. Xin lưu ý, đâu chỉ có Tố Hữu, rất nhiều văn nghệ sĩ khác có uy tín, được xã hội kính trọng, cũng từng viết, vẽ ca tụng những điều như vậy. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự “ngây thơ” như nhà thơ Việt Phương đã viết: “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ…” BSNKV cũng từng tự nhận mình có thời là “ngây thơ”…”
Với riêng bài viết của nhà văn PVĐ, chỉ dẫn trường hợp PVĐ phê phán bài thơ nổi tiếng “Bác ơi” Tố Hữu viết sau ngày Bác Hồ qua đời mà có lẽ nhiều người còn thuộc (“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa/ ... Chiều nay con chạy về thăm Bác...”) thì... buồn cười quá! PVĐ viết rằng: “Một cái chết của ông Hồ được trời biết, đất biết suốt mấy hôm rày mà Tố Hữu làm sao đến chiều mới chạy về thăm mà lại chỉ “Đến bên thang gác, đứng nhìn lên” mà không ào vào nơi ông Hồ Chí Minh nằm?”... Phê bình văn chương mà “máy móc” như vậy thì… hết biết! Đó là chưa nói đến việc PVĐ không biết chi đến hoàn cảnh cụ thể là ngày Bác Hồ mất, Tố Hữu đang nằm bệnh viện (chi tiết này đã có trong sách giáo khoa, vô Google 1 giây là thấy!) PVĐ cũng bất chấp việc nhà thơ Tố Hữu không sinh ra và hầu như không sống ở quê nhà (mà bài ký của tôi đã viết rất rõ!) - các con ông càng như thế, nhà lưu niệm thì đã có ở Hà Nội, nên gia đình ông không tính tới việc xây thêm nhà lưu niệm ở quê cũng có cái lý của nó (cũng như việc sẽ xây KLNTH sắp tới cũng có cái lý, từ một góc nhìn khác); vậy nhưng PVĐ viết rằng Tố Hữu “vô tâm” trước “ngôi nhà này là ngôi nhà từng che chở tuổi thơ cho Tố Hữu; sao Tố Hữu lại không đoái hoài, đếm xỉa gì?”
Bài của PVĐ còn nhiều sai lạc nữa, thậm chí nặng lời với tôi (cho rằng NKP “ngớ ngẩn, xu thời”) mặc dù như tôi hiểu, ông không “ghét bỏ” gì tôi, nhất là khi ông biết tôi là em ruột BSNKV mà ông quý trọng phong cho danh hiệu “đại trí thức”. Tuy thế, tôi vẫn kính trọng dịch giả Rumani PVĐ, nhà báo PVĐ với những bài viết nồng cháy tinh thần yêu nước. Có thể khi viết bài trên, là một “PVĐ khác” hoặc là PVĐ đã bị… “cướp quyền điều khiển” ngòi bút của mình! Đó là tôi vận dụng dựa theo một cách hiểu khoa học rất hiện đại - trong “thế giới ảo” là hiện tượng “cướp quyền điều khiển” trên không gian mạng đã xảy ra và trong thế giới tâm linh là người mộng du hay bị “vong nhập”! Các bạn có thể tìm đọc cuốn sách rất có giá trị “Hào quang vật lý trong bầu trời Phật học” mà Nxb. Thế giới & ThaihaBooks vừa xuất bản sẽ hiểu rõ hơn. Đừng nghĩ đây là “chuyện riêng” của PVĐ mà là kinh nghiệm cho cả giới cầm bút, nhất là khi lên mạng, rất dễ bị “tâm lý đám đông” cuốn hút vào xu thế “hạ bệ thần tượng” đang được một số người cổ vũ.
Dẫn những điều trên, chứng tỏ là đến nay, tôi vẫn “bỏ phiếu thuận” về việc xây KLNTH, cho dù đã có bạn khuyên tôi không nên “dính” đến “vụ” này nữa, với lý do mà “nói trắng” ra là cần tính “đường xa nghĩ nỗi sau này…” Có lẽ cái tính “gàn” của “ông Đồ Nghệ” (như Nguyễn Quang Lập đã phong tặng cho tôi trên Tuần san Thanh Niên dạo nào), tôi có cách nghĩ khác: Khi “thể chế” này mới chỉ hiện diện xa tít bên nước Nga, các nữ sinh Đồng Khánh Huế - hầu hết là con cháu nhà giàu, quan lại - đã chuyền tay nhau thơ Tố Hữu như là bảo vật! Có điều khác là tôi giữ nguyên ý tưởng từ bài ký viết mùa Xuân năm ngoái, trong đó có câu: “…đó sẽ là một phương án tốn ít tiền của nhất, giản dị, nên thơ và gần gũi với mọi người… Một “công trình” như thế, có lẽ không cần dùng đến ngân sách Nhà nước…”(*)
Cho đến nay, như tôi được biết, phương án chi tiết cuối cùng KLNTH vẫn chưa hoàn thành, nên hẳn là những ý kiến đóng góp với thiện ý (kể cả đồ án thiết kế chi tiết của các kiến trúc sư, họa sĩ từng yêu mến thơ Tố Hữu) chắc sẽ được các cơ quan hữu quan nhiệt tình đón nhận.
Xin được kết thúc bài viết với một thông tin cũng có thể xem là “chuyện bên lề” vì không phải quyết định có “dấu son” nhưng đáng tin cậy: Tôi đã có dịp trao đổi với ba đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, các đồng chí cho biết lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế đã lắng nghe dư luận và đã có chủ trương điều chỉnh thích hợp, kể cả tên gọi - có thể sẽ là một “Công viên văn hóa…” kết hợp tưởng niệm nhà thơ…
Với một công trình văn hóa - dù to hay nhỏ - để lại cho hậu thế, nhất là đối với một tên tuổi như Tố Hữu, không thể vội vàng, sự thận trọng như thế là rất đúng. Chúng ta hy vọng KLNTH hình thành vào dịp 100 năm ngày sinh của nhà thơ (4/10/2020) sẽ thể hiện được ý tưởng chủ đạo cơ bản của thiết kế mới tràn đầy hương vị Xuân và Thơ, đúng là nơi lưu niệm một nhà thơ đã có những bài thơ “sống trong lòng nhân dân” chứ không vì một chức tước nào khác. Do đó, công trình không phải là những khối “bê tông” thô cứng tốn nhiều tiền mà thường vắng lạnh như không ít nhà lưu niệm đã có mà thực sự là “một điểm sáng văn hóa” của vùng nông thôn huyện Quảng Điền còn nhiều khó khăn…
N.K.P
(SHSDB32/03-2019)
------------------------
(*) Toàn văn bài ký cùng đoạn “bổ sung” in nguyên văn thư BSNKV gửi Tố Hữu và “lời bàn” của tôi về cách đánh giá sự nghiệp thơ Tố Hữu đã in trong tập “Đãi cát lấy vàng” – Nxb. Tổng hợp Tp.HCM vừa xuất bản.
1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.
Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.
Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).
*Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.
Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...
Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.
I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.
Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.
Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.
I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.
Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.
Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.
Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...
Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.
Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...
Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.
Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "
Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.