NGUYỄN MINH ĐỨC
1.
Tảng sáng, bảy phát đại bác vội vã nã trống không xuống dòng Giang. Mặt đất rung chuyển. Bảy tiếng nổ liên hoàn kết thành làn sóng âm trong sương sớm.
Minh họa: Ngô Lan Hương
Chim chóc ngái ngủ giật nẩy mình hoảng loạn bay ra khỏi tổ ngơ ngác. Cá vỡ bong bóng lóp ngóp dềnh trắng lấp lóa mặt sông. Hàng xoan đôi bờ ngã màu. Những chiếc lá vàng rơi rụng lả tả bay, trơ lại những cành khẳng khiu, thâm xì, mốc thếch trong gió đông, báo hiệu mùa hoa xoan thôi tím dòng Giang như những mùa xuân trước.
Sông Giang vẫn lững lờ điềm nhiên trôi sau khi đã tự khỏa lấp sóng nước bởi những phát đại bác tầm nã bắn vào vu vơ như không có chuyện gì xảy đến. Hai bên dòng sông sau bao năm binh biến, sau bao cuộc bắt bớ, giết chóc điêu tàn. Những hàng rào tre quanh làng trở thành những cái chuồng lớn nhốt người. Rặt đàn bà, con trẻ. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Lính khố lục canh gác cẩn mật phòng báo tin tức, tiếp tế lương thảo cho nghĩa quân. Lác đác vài giáo sĩ hành đạo thuyết giảng Ki-tô trong nhà thờ đạo. Miền quê thượng Đức vào buổi sáng mùa đông ấy hôm đìu hiu bóng người thêm u tịch, lạnh lẽo.
Dòng Giang đang trong xanh bỗng chốc đỏ quạnh một vùng vì ngấm thuốc những viên đại bác. Những cột nước máu ngún ứa túa ra trồi lên, cuộn chảy. Mặt trời mùa đông rọi xuống nước hắt ngược ánh lên những sắc lính gương mặt vốn đen đúa nay nhuốm khói thuốc súng càng bầm đen như máu, đằng đằng sát khí đang hả hê.
- Ờ! Có đúng thế không? Một câu hỏi gần như trống không chẳng biết hỏi ai dội vào lòng tướng quân. Dòng Giang quen nhận nỗi đau bồi lở xưa nay. Chẳng hề hấn gì. Câu trả lời của dòng sông là “Chẳng hề hấn gì! Giận cá không nên chém thớt!” Nguyễn Thân cười gằn vì ý nghĩ này.
Mấy chục năm nối gót cha vời chốn quan trường phò vua, được phong đến chức tham biện sơn phòng xứ Quảng Ngãi đến Bình Thuận, chinh phạt bao kẻ cứng đầu giặc man đá, tiểu phỉ. Tình thế gió đổi chiều, triều đình bạc nhược trao quyền đô hộ cho người Pháp. Đức vua Hàm Nghi sức tàn lực kiệt vẫn hi vọng lãnh đạo phong trào Cần Vương vùng núi non hiểm trở xứ Huế. Kẻ nghịch tặc Trương Quang Ngọc bắt Hàm Nghi quay về triều đình Huế giam lỏng. Nguyễn Thân dốc lòng theo đuổi sự nghiệp. Nhưng phò ai? Nhà vua trẻ ư!? Lòng ta chỉ có thể phụng sự mẫu quốc. Đó mới là thượng sách. Người Pháp và triều đình muốn tận diệt những kẻ nổi dậy trong phong trào Cần Vương ư!? “Tốt thôi!” - Ông nói. Mũi tên này sẽ trúng hai đích, là cơ hội ngàn vàng để ghi công trạng.
Nhưng… Đã mười năm trời, thăm thẳm nuôi hận, nhiệm vụ bất thành. Lòng rưng rưng tức tối trước đường rừng miền tây đến Ngàn Trươi heo hút hiểm trở. Bên ngoài lòng dân không thuận. Trong quân lính có kẻ dị hiềm. Dẫu trong tay có lực lượng thiện chiến, trang bị vũ khí tối tân mà không dễ gì bắt sống được thủ lĩnh Phong Châu, mang thủ cấp về làm món quà chiến thắng.
Chiều hành quân đồn trú dừng chân. Lán trại vừa dựng lên, tướng quân nhận tin cấp báo: “Trận tiến công vào đại bản doanh núi Vụ Quang ngày 24/10/1893, ba sĩ quan Pháp thiện chiến và hàng trăm binh lính khố đỏ khố xanh bỏ mạng thê thảm tại đây. Vì sao!? Vì đã trúng kế “Sa nang úng thủy” - ngăn đập xả nước của nghĩa quân!” - Hừm! ngài đứng phắt dậy. “Đối sách với kẻ mưu sâu kế hiểm chi bằng kế đánh lúc chiều tà”. Tay cầm đốc thanh Thượng Phương Bảo Kiếm, giận dữ: “Phải huy động lực lượng áp đảo, phải triệt tiêu dạ dày nghĩa quân của ông ta, bịt đường lương thảo, đánh ngày vây đêm thì may ra…”.
Đêm giao mùa, trăng đỏ như máu. Nằm trong lán trại mải mê nghĩ mưu tính kế, tướng quân thiếp đi lúc nào chẳng hay. Giấc mơ được gắn lên vai huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh, trở thành thành viên trong quân đoàn danh dự mẫu quốc chảy sang những phẩm hàm cao quý khác. Toàn thân ngài rung lên sung sướng. Nhưng lại thấy những oan hồn bị giết hoặc chết trận đứng thành dãy vây quanh lán. Ngài ú ớ hét to. Mồ hôi túa ra. Lính cận vệ theo hầu nghĩ ngài đang lên cơn sốt bèn đắp một chiếc khăn ướt lên trán, còn đặt vào lòng bàn tay ngài một nắm lông đuôi ngựa làm bùa hộ mệnh giúp khuây khỏa nỗi nhớ phu nhân. Tướng quân vứt đi rồi gằn giọng: “Cha ta báo mộng cuộc chinh phạt lần này nhất định thành công. Ta không thể uổng công vì một kẻ ngự sử mọi rợ”. - Ý tướng quân ám chỉ thủ lĩnh Phong Châu - kẻ không đội trời chung dù là người An Nam máu đỏ da vàng. Thế mà mười năm trời lao tâm khổ tứ. Mười năm theo đuổi bóng ma thủ lĩnh vẫn không cách gì triệt hạ được ông ta. Bi phẫn quá.
2.
Ni sư Thu Hà lệ thường gióng chuông thỉnh nguyện chúng sinh chùa Xoan triền núi Lạc bên dòng Giang bốn mùa xanh trong, thoai thoải triền đồi mênh mông những rặng xoan cổ thụ. Sáng nay ni sư bị đánh thức sớm bởi những loạt đại bác vang rền trong ngơ ngác, hoang mang, hoảng loạn. Thu Hà vội chạy ra phía sau chùa nghe ngóng quên cả việc dóng chuông. Nếu biết Nguyễn Thân cho bắn đại xuống sông đã một nhẽ. Nhưng dòng Giang nào có biết. Khi khỏa đầy sóng nước, tịnh không một lời đáp. Nguyên cớ người ngựa hành quân mang vác đại bác như độn thổ mà lên, hối hả trong đêm trút hàng loạt đại bác tầm nã xuống sông như thế là một câu hỏi lớn trong lòng nàng.
Nàng ôm ngực tựa lưng vào mé hiên chùa đau đáu nhìn phía sông, rặng xoan đang trút lá. Nàng lo lắng nghĩa quân đang bơ vơ trơ trọi như những cành xoan khẳng khiu kia. Mồ hôi lấm tấm trên gương trăng dù ngoài trời tháng Chạp khá lạnh. Vành khăn nâu ôm sát đầu, đôi mắt không chớp. Đầu nàng vang lên những câu hỏi: “Vì sao có tiếng nổ!? Ai đã gây ra giờ này!?” Hồ nghi xen lẫn kì vọng. Thần thái biến sắc, trái tim nhạy cảm trỗi dậy thêm rối bời. Thu Hà ước tiếng nổ đanh thép kia là của nghĩa quân trở về đánh đồn Linh Cảm báo thù cho Phong Châu!? Dẫu chàng đã rời cõi trần nhưng rừng sâu vẫn còn đó dấu chân nghĩa quân rải rác, phong trào chưa thể tắt ngấm thế được. Nàng tự vấn để trấn an mà thấy lòng mông lung quá…
Có mùi khét như là thịt cháy trong sương sớm. “Thôi chết! Đang xảy ra điều chi đây?” Nàng linh cảm một tội ác ghê gớm. Hơn mười ngày trước, từ đại bản doanh trở về chùa, Thu Hà biết quân Nguyễn Thân đang ráo riết bủa vây, lùng sục khắp các cánh rừng Ngàn Trươi truy tìm huyệt mộ thủ lĩnh. Ông ta còn treo thưởng mấy lạng bạc cho ai báo dấu vết lăng mộ. Bước chân trần bần thần. Nàng trở vào chùa Xoan. Bảy tiếng chuông báo lễ đốt nến đèn, nhang khói thỉnh nguyện chúng sinh hôm nay vô thức từ cánh tay nàng trùng hợp bảy phát đại bác bắn xuống sông. Nàng gục xuống bên chuông chùa lạnh buốt, hồn phiêu diêu về những năm tháng đời mình…
3.
Đời người con gái hơn một lần quy y mà chưa thể thoát tục lụy. Nếu ta không đơn phương thương nhớ và mến yêu tài năng đức độ của Phong Châu, an phận ở chùa Xoan. Và… nếu ta không dại dột nghe lời tướng quân theo ông ta vào Huế ngự chốn thiền môn, thăm thú cảnh chùa để gặp ngự sử Phong Châu thì đã khác.
Nguyễn Thân bỏ công nghiên cứu Phong Châu và biết rõ thân phận, mối quan hệ của nàng với quan ngự sử. Chốn quan trường chưa từ bỏ một thủ đoạn nào để đạt mục đích. Một mặt muốn lấy lòng kết giao tình bằng hữu với Phong Châu; mặt khác, dùng nàng để diệt bằng được con người liêm chính quan ngự sử. Nhân lần kinh lí xứ Nghệ, ngài ghé chùa Xoan thuyết phục nàng theo về kinh đô Huế. Vừa gặp nhau ngài cung kính: “Bẩm ngài ngự sử. Đường xa vạn dặm. Việc triều chính bộn bề. Hay tin ngài bấy lâu chẳng dịp hồi hương. Nay bao quản nắng mưa, đường rừng heo hút, Tiểu phủ sứ tôi đưa Thu Hà vào đây hầu hạ. Hầu mong ngài đối đãi với giai nhân Xoan Tự như nghĩa đất trời”. Nói đoạn, ông ta gập người và đá lông nheo sang Thu Hà. Phong Châu nhận ngay thâm ý mà chẳng thèm nói lời nào. Chứng kiến buổi gặp gỡ, Thu Hà hiểu rõ hơn con người Nguyễn Thân.
Quan ngự sử là người trọng nghĩa, kín đáo giao thiệp, nhẹ nhàng với cấp dưới và thực sự có sức hút lớn từ đôi mắt tinh anh với người đối diện. Những ngày nàng ở Huế, Phong Châu ghé thăm: “Ta biết nàng lặn lội vì ta. Người Pháp nổ súng đánh chiếm và đang ngày đêm vây ép. Thời thế tao loạn. Triều chính rối ren. Ta chưa thể vì tình riêng, mong nàng xá tội”. Ngừng giây lát, Phong Châu tiếp: “Lòng người hiểm sâu khó đoán định. Nàng quay về học cho được bí truyền. Ta nghe sư thầy chùa Xoan rất giỏi chữa rắn cắn, thương hàn, sốt rét… Những bài thuốc bí truyền Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác lần thăm thú vãn cảnh Hương Sơn truyền lại. Nếu sư thầy thương tình truyền cho đặng có ngày dùng đến…!” Tấm chân tình ấy làm nàng xúc động chực khóc nhưng ngăn được. Nàng nhớ chùa, nhớ thầy muốn trở về chốn cũ. Hoàn cảnh trớ trêu ấy Nguyễn Thân tranh thủ buông lời ong bướm nhưng nàng cự tuyệt.
Đêm cuối ở quán văn, Thu Hà đốt thêm trầm thao thức. Canh khuya có tiếng gõ cửa thư phòng. Nguyễn Thân tuần phủ đường đột một mình xuất hiện. Cửa mở, ông ta xộc vào bế xốc nàng lên, tay bịt miệng định dở trò. Nàng vẫy vùng hoảng loạn nhưng làm sao thoát khỏi vòng gọng kìm thép của tướng quân!? Thu Hà vờ nằm im ngoan ngoãn trong vòng tay ấy. Lấy lại bình sinh: “Thiếp phận nữ nhi, đường tu chưa trót. Nếu chàng thương, không ngại điều tiếng thì cứ buông ra. Đã theo vào tới đây, ắt có dịp đáp đền”. Nghĩ đến danh phận, Nguyễn Thân để nàng ngồi xuống tràng kỉ. Đang lúc phủi bụi áo, Thu Hà vụt chạy ra ngoài toan nhảy xuống sông Hương nhưng ông ta đuổi kịp ngăn lại. Trời sáng rỡ, nước mắt Thu Hà nhòa sông Hương. Nghĩ đến Phong Châu, nàng không thể chết. Quyết quay về chùa Xoan. Nguyễn Thân nuôi ý phục thù.
4.
Danh phận Thu Hà chính là “dòng sông mùa thu”, càng lớn càng xinh đẹp, giỏi giang và đặc biệt thông minh, sáng dạ. Học đến đâu rỡ rạng đến đó nhưng chưa khi nào nhận được lời khen của sư thầy. Làn da trắng, đôi mắt đượm buồn, biếc xanh như trái xoan mùa hạ. Nàng sớm được sư thầy chỉ lá thuốc, cách chưng cất, sao tẩm; thành trợ thủ đắc lực giúp sư thầy bào chế thuốc cứu chữa cho nhiều người trong vùng đặc trị sốt rét, cảm hàn và rắn cắn.
Ngày sư thầy sắp viên tịch, ông nói.
- Con theo ta chừng ấy năm trời. Ta có con hiếu thảo. Cùng ta giúp sức nghĩa quân cứu chữa thương bệnh binh. Ta không còn bên con bao lâu nữa. Ta giao bí thuốc gia truyền để con thay ta giúp đời. Chừng nào nghĩa binh chưa hoàn thành sứ mệnh thì còn cần đến ngôi chùa này”. Sư thầy viên tịch. Mắt Thu Hà ầng ậng nước. Nàng dốc lòng đảm đương việc sư thầy giao phó.
Nàng vẫn chưa biết người sinh ra mình ở đâu. Chỉ biết lớn lên ở chùa Xoan, là con của chùa Xoan. Nhưng nàng biết chùa Xoan chẳng những thờ tự các đấng Bồ tát mà còn là căn cứ quan trọng, đầu mối giao liên tiếp tế lương thảo, thuốc men cứu chữa thương bệnh binh nghĩa quân. Cạnh chùa Xoan, con đường mòn lớn nối giao liên các vùng thượng Đức. Các Thứ quân Hương Sơn xuống, Bồng Thượng, Bồng Hạ lên; từ Hói Trùng, Hói Trí ngược Ngàn Trươi, Ngàn sâu sang Ngàn Phố. Đường mòn bộ hành, đường sông, suối ngược thác lên đại bản doanh Vụ Quang, Đại Hàm, nơi bước chân thủ lĩnh Phong Châu ghi dấu.
Nàng nhớ hôm tiễn Phong Châu tham dự kì thi Đình, chàng hai nhăm, nàng chớm trăng tròn. Hôm ấy Phong Châu vai mang tay nải qua đò sang bên kia dãy Thiên Nhẫn. Buổi chia tay chiều đầu đông, rặng xoan bên chùa đìu hiu bóng nước. Tính Phong Châu cương trực, không muốn ai buồn lụy. Nhưng nàng bướng bỉnh muốn tiễn đưa một đoạn qua bên kia sông rồi mới quay về. Giữa dòng Giang, cơn gió bất chợt thổi mạnh, đò chòng chành. Cánh tay chàng vững chãi đỡ lấy vạt áo nâu thơm hương bưởi. Lần đầu tiên tay hai người chạm nhau bối rối e lệ.
- Chàng đi. Thiếp muốn đi cùng. Nàng lơ đễnh nhìn rặng xoan. “Mùa này xoan chưa nở. Chàng gắng đỗ đạt. Ngày về vinh quy, em kết hoa xoan nghinh đón”. Mắt Thu Hà trải tím một màu hoa xoan. Phong Châu muốn thầm hứa mà có gì đó cứng nghẹn. Chàng biết Thu Hà không dễ hoàn tục. Đò cập bến, nàng lặng thấm những giọt nước mắt hi vọng khi bóng chàng khuất dần trong mờ sương bên kia sông. “Phong Châu chàng ơi! Sao chàng im lặng!? Chàng hãy hứa với thiếp cùng hẹn ngày về, khi ấy thiếp sẽ xuất gia…”.
Nàng nhớ sư thầy. Sư thầy kể ngày bà Phan mang đứa con trai ra bờ sông làm lễ cúng thần sông. Đôi mắt cậu Phan rực sáng, đôi tay tinh nghịch vẫy vùng khỏa nước. Thay vì ba tiếng khóc là tiếng cười nắc nẻ vang vọng sang bên kia dãy Thiên Nhẫn. Ngã ba sông Linh Cảm - nơi gặp gỡ của ba nhánh sông Ngàn Trươi, Ngàn Sâu, Ngàn Phố đổ về bến Tam Soa chứng kiến lần đầu của cậu bé. Sư thầy tri giác: “Đây là gương mặt của một thủ lĩnh! Thần tiên sẽ phù hộ độ trì người kế nghiệp gìn giữ dòng Giang quê mình mãi xanh trong”.
Ngày bà Phan dẫn con trai vào chùa Xoan làm lễ tạ ơn đúng rằm, trăng tròn vành vạnh. Gần tới cổng chùa, có tiếng kêu như mèo con ở lối rẽ vào cổng. Đứng lại nghe kĩ. Không phải. Tiếng khóc hài nhi, càng đến gần càng rõ. “Đúng là tiếng khóc hài nhi. Nhưng ai đem bỏ cổng chùa giờ này?” Bà Phan định bước đi nhưng không thể. Tiếng khóc níu chân quay lại, bà cúi xuống bên chiếc thúng rộng vành mở mẹt đậy, một hài nhi tím tái quấn trong vài lần áo cũ, lót dưới đáy thúng một nắm lá xoan khô mùi hăng hắc đắng. Có lẽ nhằm ngăn lũ kiến và côn trùng có thể tấn công hài nhi. Một ống tre khô mài nhẵn đựng ít nước như là nước cơm. Không phải. Mùi nồng nàn thơm béo này chỉ có thể là sữa mẹ, còn ấm nóng. Bà thầm nghĩ: “Người mẹ ấy đã chuẩn bị cho chuyến rời xa, khóc nhiều và đau đớn lắm khi vắt sữa trước khi bái biệt con mình”.
Trước sau đặng không một bóng người. Tay dắt con trai nách thêm cái thúng đựng hài nhi đi vào chùa. Hiểu rõ sự tình, tiếng gõ mõ đều đều vang lên trong thanh tịnh. “A Di Đà Phật. Thân phận hài nhi! Con là con của ai? Người mẹ hữu ý nào đó muốn gửi cửa chùa mà không dám thốt lên? Hẳn có cơn cớ mà không nói ra được”. Sư thầy đưa mắt vọng xuống cổng chùa: “Mô Phật. Chùa ở trên cao, sương giăng buổi sớm khó lòng nghe được tiếng khóc hài nhi. Nếu không duyên phận bà đến đây lúc này, vài khắc nữa khi mặt trời lên cao sẽ lịm, kiến sẽ bâu xâu xé, côn trùng sẽ đốt chết, nhà chùa đắc tội. A Di Đà Phật”. Tiếng mõ vang đều vào thinh không…
Những ngày sống ở chùa Xoan, Phong Châu coi Thu Hà là đứa em gái bé bỏng, cậu dành nhiều thời gian chỉ dạy những nét chữ đầu tiên. Học được chữ nào chỉ cho em chữ ấy. Thu Hà tiếp thu nhanh và luôn coi Phong Châu như núi lớn. Chữ thánh hiền cần thiết cho bất kì ai yêu nó. Phong Châu nói vậy khi Thu Hà vào tuổi thập tam sao nhãng việc học mà chỉ ham tìm lá thuốc trên núi. Lần hai đứa mải trèo bắt tổ Hoàng Yến đầu ngọn xoan không may Phong Châu bị ngã gãy một ngón tay. Phong Châu đau điếng trong khi Thu Hà trêu: “Bàn tay sáu ngón không gãy lại gãy tay thuận năm ngón”. Phong Châu nhăn mặt cười theo. “Tay sáu ngón dị tật của một tài năng. Nhớ lấy”. Sư thầy dường như nhận thấy thay đổi tâm tính trong Thu Hà. Ông tìm thuốc bó, nắn xương nên tay nhanh khỏi. Mối lương duyên hai người lớn lên từng ngày.
5.
Triều đình giáng chức Phong Châu về làm tham biện sơn phòng xứ Hà Tĩnh, Thu Hà bán tín bán nghi. Lần ngang qua chùa Xoan, Phong Châu dừng chân ghé lại. Thấy chàng đường đột xuất hiện, Thu Hà quay mặt vào buồn trĩu nặng. Bao niềm tin sụp đổ dưới chân. Phong Châu chỉ nói: “Ni sư chớ vội, lòng người là sông”. Câu đó hàm nghĩa người quân tử như dòng sông vậy. Nói xong, chàng xin nhà chùa ngụm nước mưa uống vội rồi bước ra khỏi cổng. Thu Hà nhìn theo bóng chàng mà thấy lòng nhói đau.
Thật ra, người Đàng Trong Đàng Ngoài chẳng ai lạ gì sông nước dòng Giang. Nơi này núi cao, dốc đứng, dòng thẳng, chảy xiết. Lòng người quân tử như sông, trong xanh phù sa ít bám víu, đá sỏi trôi xuôi dòng mãi rồi cuội mòn trơn bóng. Mấy ai không biết thủ lĩnh họ Phan tự Phong Châu, người đã mở lời trước ba quân đúng lần trở về tập họp nghĩa binh, rèn đúc khí giới, luyện tập binh mã, lập căn cứ địa Ngàn Trươi, lấy núi rừng Vụ Quang, Đại Hàm hiểm trở làm tổng hành dinh giương cao ngọn cờ kháng cự chống quân xâm lược.
Dưới chiếu Cần Vương, Phong Châu chiêu tập trăm họ tụ nghĩa với hàng ngàn trai tráng, thống lĩnh mười lăm Thứ quân. Ông tổ chức nhiều trận đánh, làm cho quân Pháp lo sợ. Thu Hà mở lòng nghi hoặc nguyện xin theo và thành trợ thủ đắc lực chăm lo sức khỏe nghĩa binh, dõi theo tin thắng trận báo về. Chùa Xoan là nơi lui tới phần đông dân chúng. Tin tức các đồn địch được mật báo hằng ngày, giúp nghĩa binh nắm vững tình hình, xuất quỷ nhập thần tiến công địch.
Phong Châu ốm nặng trong hang núi Vụ Quang, nàng ngày đêm chăm lo thuốc thang. Buổi chiều mùa đông, biết mình không qua khỏi, ông vẫy các nghĩa binh lui. Khi chỉ còn ông và nàng, Phong Châu thều thào đứt quãng: “Đời ta… mãi mãi không có nàng mà có nàng… mãi mãi. Ân tình này tạc ghi ta gửi vào hoa xoan. Khi ta mất, trồng bên mộ cây xoan để mỗi mùa xuân đến ta được ngắm màu hoa tím, ngửi thấy mùi thơm thảo hương hoa…”. Thu Hà nắm bàn tay khô rạc của thủ lĩnh bật khóc. Trái tim nàng bóp nghẹt. Nàng chạy băng rừng hoang sương lạnh một mạch về tận chùa Xoan phủ phục dưới hương án sư thầy nức nở. Phong Châu trút hơi thở cuối cùng vào giờ Hắc đạo, ngày Kỉ Dậu, tháng giá rét năm Ất Mùi. Thi hài được bí mật mai táng ở chân núi Quạt. Nơi ấy có thế núi hình sông bao bọc, đường vào hiểm trở, là chốn thẳm rừng thiêng đã từng được vua Quang Trung trấn yểm, rằng ai động đến một cành cây ngọn cỏ nơi này đều phải chết.
6.
Đám thuộc hạ hoan hỉ treo cờ phướn, giăng khẩu hiệu, rỉ tai: “Không ai phải xông pha trận tiền giao tranh, không cần vào vùng rừng thiêng nước độc Ngàn Trươi mà vẫn thỏa nguyện ý chí tướng quân!” Thế thời nương cây ẩn bóng, ông ngắn gọn bằng thông điệp từ cái phẩy tay quyền uy tót vời: “Người đời có thể tạm hiểu sông Giang là kẻ thù truyền kiếp của dòng họ Nguyễn ta, của chính ta! “Đúng! Bất luận mọi lí do để tướng quân nổi giận đều là kẻ thù không thể tha thứ”.
Chỉ mấy ngày trước, tướng quân bi phẫn vì thiếu phương án tối ưu nên không thể làm gì được. Dù quân Phong Châu gần như tuyệt lộ, việc cung cấp lương thảo không còn, người ngựa vơi, khí giới tản mát, bệnh dịch hoành hành. Đang lúc suy mưu tính kế, người của tướng quân bắt được tù binh khai thác: “Thủ lĩnh Phong Châu tuốt gươm khỏi vỏ, một đường ngọt từ trái sang phải, yên lòng nằm lại chân núi Quạt”. “Hừm! Tự sát ư? Ta đâu dễ tin đến thế!” Nghĩ thế nên ngài đốc thúc quan quân truy lùng ráo riết, đào xới tung cả những ngọn núi, quả đồi nơi nghi ngờ chôn mộ phần thủ lĩnh Phong Châu. Tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, cưỡng bức bất cứ ai cung cấp đầy đủ chứng cứ nơi chôn mộ phần thủ lĩnh.
Núi Quạt có địa thế quá hiểm trở. Đường rừng cheo leo, đá tai mèo trơn nhẫy dưới làn sương giăng. Sên vắt nhung nhúc, rắn rết hàng đàn nên bọn lính gan mấy cũng không dám liều mình bỏ mạng. Sau gần tháng lùng sục khắp các cánh rừng, Nguyễn Thân bắt thêm được toán trưởng bị thương, cho ăn no và mở những màn tra tấn tàn độc. Toán trưởng đành dẫn đường tới chân núi Quạt rồi cắn lưỡi chết tại chỗ. Tướng quân sung sướng nghĩ ngay đến bảy phát đại bác ăn mừng theo nghi thức Tây hóa cho phải phép. Coi đó là món quà xứng đáng dành nơi dung dưỡng thủ lĩnh cất tiếng khóc chào đời.
- Ngài Khâm sứ Brière cho rằng: “Việc làm của tướng quân là theo tục lệ An Nam” ư!? Không hẳn thế. Thủ lĩnh Ngàn Trươi dám đương đầu với nước mẹ, đương đầu với tướng quân sừng sỏ nhất xứ An Nam... thì việc bằng mọi giá phải truy cùng giết tận. Nếu chết rồi thì truy tìm bằng được huyệt mộ lấy thủ cấp, xác định danh tính thi thể tử thi. Chặt xác, tẩm dầu, đốt lên thành tro cốt, trộn vào thuốc súng bắn xuống sông chưa hả giận.
- Bảy phát đại bác! Không hơn không kém. Việc này trả lại tro xương cốt nhục về nơi từng sinh ra nó. Đó là việc nhân nghĩa, là lễ mừng chiến thắng và rửa nỗi nhục cho dòng họ Nguyễn ta - Tướng quân y chuẩn.
Người dân vùng thượng Đức chiều ấy còn nhìn thấy đám cháy nghi ngút phía chùa Xoan. Rừng xoan quanh chùa ngẩn ngơ những cành khẳng khiu, thâm mốc, xù xì lấm tấm nụ sắp mở mắt bung ra báo hiệu một mùa xuân về thành những ngọn đuốc rừng rực. Mùi khói hương gỗ xoan lan tỏa khắp vùng quê hoang lạnh điêu tàn. Màn khói từ đám cháy phủ kín dòng Giang bạc trắng quyện lẫn với dòng sông máu. Từ trong đám cháy, người ta nghe rõ tiếng thét thất thanh của người con gái. Vẳng xa trên bến Tam Soa phía đồn Linh Cảm, những tràng cười khả ố rợn dựng một khúc sông Giang.
N.M.Đ
(TCSH354/08-2018)
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.
ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.
NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.