Chữ hiếu Việt Nam - những điều suy ngẫm

15:24 08/08/2014

Lòng hiếu thảo hay lòng từ bi ở cấp độ cá nhân và gia đình giúp chúng ta tăng cường sức đề kháng với cái xấu, cái ác bên ngoài. Một người con hiếu thảo sẽ khó bị cám dỗ bởi những tệ đoan xã hội.

Nước mắt hiếu hạnh - Ảnh minh họa

Mỗi công dân trong một quốc gia biết sống hiếu thuận sẽ xây dựng nên một xã hội bình yên, một quốc gia hưng thịnh, có nền kinh tế vững mạnh, văn hóa hài hòa, và một cộng đồng đáng sống. Đó cũng là những chiều kích mới của lòng hiếu thảo hôm nay.

Trọng án bất hiếu

Có bi quan lắm không khi năm nào cứ đến mùa Vu lan, bàn chuyện hiếu thảo của con cái ngày nay, chúng ta lại đọc thấy những tin tức đáng buồn. Một đất nước hơn bốn ngàn năm văn hiến như ta, tự hào không cần “luật hóa” chữ hiếu (như Singapore), bởi con cái từ thuở còn thơ đã được dạy dỗ phải tôn kính ông bà cha mẹ. Thế thì tại sao bây giờ lại có những chuyện như (lấy một chuyện gần nhất làm ví dụ): “Quảng Nam: Nghịch tử dùng búa, mỏ-lết đánh chết mẹ và bà ngoại… Chiều 10-7, tại thôn Lâm Tây, xã Đại Đồng (huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) xảy ra vụ án mạng kinh hoàng. Hung thủ là Lê Quang Lập (20 tuổi, là người địa phương). Nạn nhân là bà ngoại và mẹ của Lập. Theo đó, vào khoảng 15g45 cùng ngày, do mâu thuẫn, Lập dùng búa đinh đánh chết bà ngoại mình là cụ Nguyễn Thị Kha (86 tuổi). Phát hiện sự việc, mẹ Lập là bà Trần Thị Thi (46 tuổi) kêu cứu rồi đi báo công an. Chạy được một đoạn thì bà Thi bị Lập đuổi theo dùng mỏ-lết đánh chết tại chỗ.

Sự việc thương tâm này không phải lần đầu xảy ra. Cách đây không lâu, khoảng 16g ngày 1-4, tại Nhà máy sản xuất các nguyên vật liệu tái sinh và xử lý chất thải công nghiệp của Công ty TNHH Dịch vụ Môi trường Ánh Dương (Công ty Ánh Dương, đóng ở phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) cũng xảy ra vụ án mạng nghiêm trọng. Vào thời điểm trên, Nguyễn Phước Linh (tên thường gọi là Chương, 23 tuổi, trú tổ 155, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) đến nơi làm việc của cha ruột là ông Nguyễn Đức Thương (51 tuổi, ông Thương làm bảo vệ tại nhà máy này). Sau khi hai cha con nói chuyện một lúc thì Linh cầm mấy cục gạch ném về phía ông Thương. Ném xong, Linh cầm con dao đâm liên tiếp vào người cha khiến ông Thương gục chết tại chỗ (theo Thùy Dung - báo Đất Việt).

Nào chỉ có ở xứ Quảng, quê hương của bao người con trung hiếu như Trần Cao Vân, Phan Bội Châu... mà ở đâu cũng thế, gần nhất là chuyện con giết cha ở Thái Nguyên. “Đã một tuần trôi qua, người dân Đồng Hỷ (Thái Nguyên) vẫn còn rúng động bởi một vụ án mạng đau lòng. Hung thủ là Nguyễn Phi Hùng (SN 1965) một con bạc khét tiếng trong vùng, và nạn nhân chính là bố đẻ của y. Vụ án mạng xảy ra vào khoảng 14g ngày 1-7, Nguyễn Phi Hùng (sinh năm 1965, xóm Cây Sơn, xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) đã nhẫn tâm cầm khúc gỗ bạch đàn đập nhiều nhát vào đầu bố đẻ là ông Nguyễn Thanh Minh - ngụ cùng địa chỉ trên (báo Pháp Luật & Đời Sống).

... Còn ở những thành phố lớn như TP.HCM, Hà Nội thì khỏi phải nói, bao nhiêu chuyện tương tự… Trong nhà đã vậy, xã hội thì sao? Đạo lý đi vắng cả rồi chăng? Mà nếu có mặt thì đang ở đâu? Có bao chuyện không đăng báo thì sao? Tôi có một anh bạn chuyên cung cấp suất ăn công nghiệp, một đêm anh lái xe đi chợ đầu mối Bình Điền, trên đường, anh dù hoa mắt, vẫn nhìn thấy một chiếc bao tải vất giữa đường. Giật mình, anh lách xe hết cỡ, dừng xe lại, bước xuống xem bao gì. Anh thấy bao nhúc nhích. Đến gần, anh nghe có tiếng ú ớ trong bao. Anh tưởng ai đó bỏ con chó trong bao, toát mồ hôi, không còn buồn ngủ tí nào. Mở bao ra, anh lại kinh ngạc bàng hoàng khi trong đó là một bà cụ. Anh hỏi: “Trời ơi, sao cụ ở trong này?”. Bà cụ kể rằng bà đi bán vé số. Mỗi ngày phải đưa cho con 100 ngàn, nó mới nuôi. Mấy ngày gần đây ế quá, không bán được bao nhiêu. Tối nay, nó say rượu về, nói cụ giấu bớt tiền. Nó bỏ đói, trói cụ lại, bỏ vào bao, nửa đêm vứt ra giữa đường. Tàn nhẫn quá! May mà miệng bao còn hở, cụ mới thở được! Anh chỉ biết cho cụ vài trăm ngàn và nói cụ sáng mai đón xe lên Nhà dưỡng lão chứ không biết làm sao. Khi anh kể cho tôi nghe, anh còn chưa hết thảng thốt trước sự nhẫn tâm của đứa con nào đó (!) trong hàng triệu đứa ở thành phố này.

Những góc nhìn chữ hiếu

Nhìn chữ hiếu thuần túy dù dưới lăng kính nào, cổ đại hay hiện đại, đồng đại hay lịch đại, thì nguồn gốc của đức hạnh ấy chẳng ở đâu xa, chính là lòng từ bi, hay nói cách khác là tình yêu thương không điều kiện. Ở đâu và bao giờ, cha mẹ vẫn luôn dành cho con cái những tình yêu vĩ đại và ngược lại, đứa con biết hiếu thảo luôn thấy hình bóng cha mẹ hiện diện trong tâm hồn mình, trên thân thể mình. Nói như Thiền sư Nhất Hạnh: Khi xa nhà, nếu nhớ cha nhớ mẹ hãy nhìn bàn tay mình. “Vì sao? Nói theo khoa học thì trong ấy có ADN của cha của mẹ. Thế nên, người con khi đã trưởng thành vẫn dành cho cha mẹ nỗi nhớ”.

 “… Tình yêu con dành cho mẹ sẽ sống mãi trong trái tim con
Cho đến muôn đời sau
Con vẫn thấy nụ cười của mẹ trong mắt của con
Và con vẫn luôn là con. Mẹ ơi, cảm ơn mẹ…”
“My love for you will live in my heart
Until eternity's through....
I see your smile in the eyes of my child
I am who I am, Mama, Thanks to you…”
                       (Bài hát Thanks to You - Richard Marx)

Chữ hiếu của người Việt đơn giản, gần gũi hơn:

Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

Vì như Phật dạy:

“Này các Tỳ kheo, có hai hạng người, không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng Mẹ, một bên vai cõng Cha, làm vậy suốt 100 năm cho đến 100 tuổi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ cho Mẹ và Cha” (Tăng chi I, 75).

anh minh hoa 2.jpg

Trong kinh Địa Tạng, tám chữ: “Hiếu đạo, Độ sanh, Bạt khổ, Báo ân” nói lên đạo lý hiếu thảo sẽ làm trời đất rạng rỡ. Xưa nay, việc quan trọng đầu tiên là phải học làm người. Làm người nghĩa là phải biết hiếu thảo. Bởi vì theo giáo lý nhà Phật, cha mẹ chính là trời đất, cha mẹ là sư trưởng, cha mẹ cũng là chư Phật. Vì không có cha mẹ thì làm sao có được thân thể này, mà không có thân thể này thì lấy ai thành Phật. Điều thứ nhất chính là Hiếu đạo. Nếu không làm được điều thứ nhất, thì không thể làm điều thứ hai - “Độ sinh”. Theo HT.Tuyên Hóa: “Nói độ sinh chính là độ chúng sinh. Độ chúng sinh không phải nói độ một người, hai người, cũng không phải độ ba người, năm người mà gọi là độ chúng sinh. Độ chúng sinh là độ tất cả mười hai loài chúng sinh, giáo hóa, khiến họ đều phát tâm Bồ-đề, sớm thành Phật quả. Đây mới gọi là độ chúng sinh” (theo Tạng thư Phật học). Làm được như thế, chúng ta mới có thể “Bạt khổ", đẩy lùi cái khổ của chúng sinh. Cuối cùng là “Báo ân”, nghĩa là đền đáp ân cha mẹ.

Giáo dục lòng hiếu thảo từ đâu?

Xin thưa rằng, phải giáo dục từ đầu, từ thuở còn thơ, và cha mẹ phải là tấm gương như đã nói ở trên. Ngoài ra, trong chương trình giáo dục, thầy cô và nhà trường nên có những ngày những buổi cho các em viết bài hay kể chuyện về lòng hiếu thảo. Tại sao lại chú ý quá nhiều vào“Ngày lễ Tình yêu” (Valentine 14-2); Ngày Ma quỷ (Halloween 31-10) mà không kỷ niệm những Ngày của Mẹ (11-5), Ngày của Cha (15-6). Cho dù chúng ta hay nói mình có nguyên một mùa Báo hiếu, nhưng bao nhiêu người đến chùa rằm tháng 7 để được cài hoa đỏ hay hoa trắng, hay người ta chỉ chăm chăm lo “cúng cô hồn” mà quên ý nghĩa chính của “Vu lan bồn”.

Giáo dục những gì? Quan trọng nhất phải dạy về lý nhân quả. Cổ đức dạy: “Hiếu thuận hoàn sanh hiếu thuận tử” - (Cha mẹ biết hiếu thảo thì sẽ sinh con hiếu thảo). Đây là lý do tại sao phải dạy con trẻ lý nhân quả. Nếu như mình hiếu thảo với cha mẹ mình, thì sau này con cái sẽ hiếu thảo với mình, vì chúng ta chính là tấm gương cho con cái noi theo. Chúng ta vẫn còn nhớ câu chuyện chiếc xe. Khi người nông dân đóng chiếc xe, đứa con hỏi bố đóng làm gì. Người cha trả lời, để đưa ông nội lên vùng tuyết phủ cho gấu trắng ăn thịt. Đứa con dặn bố đưa ông nội đi rồi nhớ đem chiếc xe về để mai mốt khi cha già, con cũng đưa bố lên trên ấy.

Hãy dạy những bài đọc về chữ hiếu, cả tác phẩm Nhị thập tứ hiếu, phân tích cả cái hay và cái không hay của nó như “cắt thịt”, “nằm cho muỗi cắn”. Có những chuyện hay như Chuyện Đổng Vĩnh (truyện thứ VIII). HT.Tuyên Hóa kể thêm:

Đổng Vĩnh còn gọi là Đổng Ảm. Đổng Vĩnh rất hiếu thảo với cha mẹ. Hàng xóm của anh ta có một người họ Vương, gọi là Vương Kỳ. Đổng Vĩnh là người nghèo, không có tiền, Vương Kỳ là người giàu có. Nhưng mẹ của Đổng Vĩnh, vì nhờ có người con hiếu thảo nên được khỏe mạnh mập mạp. Mặc dù đã lớn tuổi, nhưng từ sáng đến tối bà luôn cảm thấy vui vẻ. Còn bà mẹ của Vương Kỳ mặc dù tiền bạc sung túc, ăn thì có thịt heo, thịt gà, cá, vịt, toàn thứ ngon vật lạ, nhưng lại ốm yếu bệnh hoạn. Bà ta không có một chút vui vẻ, luôn đau buồn.

Có một hôm Đổng Vĩnh không có ở nhà, Vương Kỳ cũng không có ở nhà, bà ốm mới hỏi bà mập: “Nhà bà nghèo như thế, cũng không có gì ngon để ăn. Vậy tại sao bà mập như vậy? Bà lớn tuổi như thế, mà mập như vậy là lý do gì?”. Mẹ của Đổng Vĩnh mới nói với mẹ của Vương Kỳ rằng: “Bởi vì con của tôi rất hiếu thảo, nó không dám làm một việc gì xấu cả, lại rất thật thà đúng đắn, cần cù làm việc. Tôi không có điều chi đau buồn về nó, lại rất hài lòng. Tâm hồn thoải mái, thân thể khỏe mạnh, tôi thích như vậy, nên tôi mập được”. Sau đó mẹ của Đổng Vĩnh tức là bà mập hỏi lại bà ốm: “Bà có tiền như thế, ăn toàn là thứ ngon vật lạ, tại sao lại ốm như vậy? Bà ốm như cây sậy, có phải là bệnh gì không?”. Bà ốm này liền trả lời: “Tôi hả! Tuy có tiền, tuy có đồ ăn ngon, nhưng đứa con của tôi, tánh nó không thật thà, không đúng đắn, thường làm những hành vi phi pháp; hôm nay phạm pháp, ngày mai cũng phạm pháp. Ba hôm nay bị sai nha bắt tra hỏi, mai lại có lệnh gọi của phủ đường gửi đến. Tôi từ sáng đến tối, chỉ lo lắng cho đứa con này, ăn dù ngon cách mấy cũng cảm thấy không vui, từ sáng đến tối lúc nào cũng ưu sầu, lo buồn. Cho nên tôi càng ngày càng ốm đi, mập không nổi, đều là vì buồn bực chuyện này”... (HT.Tuyên Hóa - Tạng thư Phật học).

anh minh hoa 1.jpg


Nói cách khác, hiếu kính nuôi dưỡng cha mẹ chưa đủ mà phải làm những điều đúng đắn với pháp luật, kỷ cương, không gây phiền muộn cho cha mẹ. Lòng hiếu thảo chính là tiền đề cho một con người trung thành với Tổ quốc. Đất nước không có những người con hiếu thảo thì lấy đâu ra một đạo quân trung thành? Đó cũng là tiền đề cho đức tính liêm chính, nhân nghĩa. Điều đó không chỉ mang lại niềm hạnh phúc vô biên cho cá nhân những con người trong gia đình, mà còn mang đến sự bình an cho cộng đồng, xã hội. Lòng hiếu thảo hay lòng từ bi ở cấp độ cá nhân và gia đình giúp chúng ta tăng cường sức đề kháng với cái xấu, cái ác bên ngoài. Một người con hiếu thảo sẽ khó bị cám dỗ bởi những tệ đoan xã hội. Mỗi công dân trong một quốc gia biết sống hiếu thuận sẽ xây dựng nên một xã hội bình yên, một quốc gia hưng thịnh, có nền kinh tế vững mạnh, văn hóa hài hòa, và một cộng đồng đáng sống. Đó cũng là những chiều kích mới của lòng hiếu thảo hôm nay.

Nguồn: Nguyên Cẩn - GNO
 
 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.