Cát trắng

17:00 22/06/2009
PHƯƠNG HÀ                     (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.

Vừa đi tôi vừa lắng nghe tiếng động. Lẫn trong tiếng sóng biển ì ầm quen thuộc có tiếng máy bay trực thăng. Đang chú ý đến năm chấm đen xuất hiện ở phía Tây thì bỗng ầm ầm, ào ào một đoàn trực thăng khác bay là là mặt cát, ập đến từ hướng mặt trời mọc. Nghi binh kiểu này tức là địch sẽ đổ quân. Tôi phóng đại qua những hố pháo, cố chạy đến hầm của Hoà, những không kịp nữa rồi. Một tràng trọng liên sáu nòng ồ ồ, tôi như vấp hòn đá chặn đường, té nhào xuống. Co người cố chạy tiếp nhưng chân phải không nhấc lên được. Bị vào xương rồi. Không còn hy vọng để ẩn nấp, tôi lật ngửa người, quạt lại lũ trực thăng bằng khẩu AK báng xếp. Tiếng tiểu liên của tôi chìm trong tiếng rốc-két, tiếng trọng liên của máy bay Mỹ giờ đây không chỉ nhằm vào tôi mà rải ra khắp làng. Chúng đang dọn bãi đổ quân. Tôi trườn đến một bụi tre chỉ còn gốc, hy vọng dựa vào nó mà đánh địch lâu lâu. Bỗng Hoà xuất hiện, trắng toát trong chiếc dù ngụy trang. Không nói không rằng, Hoà lấy băng buộc chặt chỗ máu ra nhiều cho tôi rồi giúp tôi trườn về hầm bí mật, cách một quãng ngắn, giữa những bụi cây. Bầy trực thăng vẫn quần đảo, bắn phá, cát mù mịt che khuất chúng tôi. Hoà xuống hầm trước, cái bụng khó khăn lắm mới lọt qua được cửa. Đến lượt tôi, thật gay go. Cái chân bị thương ngay đơ, tôi sợ nhất là bị choáng. Hoà phải dướn người lên cửa hầm, dùng vai đỡ chân cho tôi tụt xuống. Bầy trực thăng chở quân đã đổ gần lắm, không gian sôi lên trong tiếng động cơ, cát đảo xoáy vòng. Cuối cùng Hoà cũng đậy được nắp hầm, đậy bớt cái âm thanh hỗn loạn phía trên.

Hoà châm một cây nến rồi giúp tôi cởi quân phục. Nắn nắn chỗ bị đạn, Hoà bảo:

- Cậu bị gãy xương cẳng chân rồi. Phải cố định lại mà ở đây thì không tìm đâu ra nẹp.

- Băng tạm rồi chờ giặc rút, quá lắm là chiều tối nay chúng cũng rút - Tôi nói như để động viên mình mà cũng làm cho bạn yên tâm.

- Không được. Những mảnh xương sẽ đâm vào động mạch.

Dưới ánh nến, khuôn mặt Hoà bỗng tái nhợt, ở đuôi mắt trái lõm một lúm đồng tiến. Giọng Hoà lạc đi:

- Cậu nằm dài ra... Thế... Mình lấy khẩu carbin làm nẹp tạm.

Hoà quấn băng cho tôi mà tay run lẩy bẩy.

- Hoà sao thế? - Không nén được, tôi nhổm đầu dậy, hỏi.

- Mình đau bụng quá. Có lẽ...

Dắt múi cuộn băng xong, Hoà ngồi vật ngửa ra, thở hổn hển, mồ hồi nhỏ giọt trên trán; cái lúm đồng tiền ở đuôi mắt trái lõm sâu thêm. Tay Hoà hết ôm bụng lại chống xuống nền hầm, lún sâu dưới lớp cát mịn. Tôi chợt hiểu ra cái giờ phút nghiêm trọng đối với chúng tôi đã đến: Hoà sắp sinh.

Lúng túng không biết làm gì để giúp bạn, tôi quên mất vết thương của mình lúc này đang rát bỏng, cố đỡ cho Hoà nằm gối đầu vào cái chân còn lành lặn của mình. Tóc Hoà bết mồ hôi, dính đầy cát. Hoà vật vã trong những cơn co thắt dữ dội nhưng cố bảo tôi moi cái thùng đạn đại liên đựng những thứ đã chuẩn bị cho đứa bé chào đời, rồi ra hiệu cho tôi quay mặt chỗ khác. Hoà thờ ì ạch hồi lâu nữa thì cả căn hầm tràn ngập tiếng khóc oa oa. Trên tay tôi một thằng cu con đỏ hỏn, trơn nhẫy, ra sức chòi đạp và càng khóc to như để khẳng định một con người nữa đã ra đời. Hoà chỉ cho tôi cắt rốn thằng bé và làm những công việc "bà mụ" hoàn toàn xa lạ đối với một chàng trai chưa vợ như tôi. Vậy mà trong hoàn cảnh này tôi làm mọi việc đều chu toàn và có vẻ "mát tay" nữa.

Có lẽ thằng bé gào to quá làm cây nến tắt. Chúng tôi giật mình thấy lỗ thông hơi như một vệt sáng đèn pin chiếu xéo xuống hầm, có thể làm cho địch nghe thấy tiếng khóc của thằng bé. Hoà vội xé một tờ giấy trong sổ tay quấn lại làm chiếc loa rồi úp ngược vào miệng con. Bây giờ thì tha hồ cho nó gào. Tiếng khóc sẽ được lòng đất mẹ đón đi. Loay hoay với vết thương của tôi và việc sinh nở của Hoà, chúng tôi không biết thời gian đã trôi qua bao lâu. Trên mặt đất vẫn lao xao tiếng lính Mỹ và những bước chân nặng trịch. Lâu lâu, tiếng trực thăng lại rộ lên, tiếng rít của ổ cánh quạt dội xuống hầm nghe rờn rợn. Trực thăng lên xuống nhiều như thế, có khả năng Mỹ sẽ chốt lại.

Thằng bé không khóc nữa. Nó ngủ ngon lành trên tấm đắp của mẹ nó. Khuôn mặt Hoà xanh xao nhưng rạng rỡ niềm hạnh phúc. Còn tôi phải đối phó với cái chân đau của mình, lúc nào cũng nhói lên như có ai lấy kềm mà bấm vào đùi.

Mệt mỏi và đau đớn quá mức, tôi không dậy nổi để châm cây nến khác. Nhưng như thế mà lại hay, bởi tôi theo dõi được thời gian qua lỗ thông hơi. Trời tối đã lâu mà tiếng động bên trên vẫn không dứt. Chắc chắn là tụi Mỹ đã đóng chốt lại. Chờ thật khuya, tôi bàn với Hoà:

- Ráng đỡ cái chân cho mình, mình đội nắp hầm quan sát tình hình xem sao.

- Không được, cậu không được nhúc nhích cái chân ấy, để mình - Hoà cương quyết.

Đứng ở nắp hầm một chốc, Hoà tụt xuống, thì thào:

- Nó nằm la liệt cả. Hai ba thằng duỗi chân cách nắp hầm vài mét. Mấy thằng gác hút thuốc, che lửa trong mũ sắt - Hoà thở dài - Chờ vậy.

Ngày thứ hai, chúng tôi chờ giặc rút trong sự thấp thỏm. Gần tối, cùng nhau nhai nắm gạo rang ngào sữa, Hoà bảo:

- Cậu đặt tên cho bé đi. Phải chi anh ấy không hy sinh...

Tôi bàng hoàng sực tỉnh. Hai hôm nay tôi quên mất người chồng của Hoà, cũng là bạn chiến đấu của tôi.

Năm 1964, từ miền Bắc tập kết về trong một đơn vị chủ lực, tôi gặp lại Hoà giữa đêm trăng mùa gặt ngay trên con đường làng chúng tôi. Lính trinh sát hễ gặp du kích là thân thiết ngay, nhất là mấy o du kích mập tròn, mắt lá răm, nhìn con trai với cái nhìn táo tợn, ướt át. Một o du kích vồ lấy khẩu AK trên tay tôi, vừa trầm trồ vừa ngượng ngùng bắt tôi chỉ cách sử dụng. Dưới ánh trăng, đuôi mắt của o du kích đang cười ấy lõm một lúm đồng tiền! Tôi nhận ra Hoà - bạn tôi từ cái thuở chơi trò cưới vợ, gả chồng cho những con chuồn chuồn. Vết sẹo ở đuôi mắt trái lõm thành lúm đồng tiền là do tôi xô Hoà để tránh mũi tên từ chiếc cung của thằng bạn thẳng vào mặt, Hoà ngã nghiêng, đuôi mắt bị một que nhọn đâm vào.

Hoà là cô gái vui tính, hôm nay liếc anh du kích nọ, ngày mai cười tình với anh chủ lực kia.  Có lẽ vì thế mà cậu xã đội trưởng một hôm chung hầm bí mật với Hoà, tưởng Hoà dễ dãi đã quả quyết ôm Hoà mà hôn. Hoà cứ để mặc cho bạn âu yếm. Nhưng khi bạn tiến thêm bước nữa thì Hoà lặng lẽ đảy bạn vào ngách hầm - cái ngách dùng để chống lựu đạn khi bị địch xom trúng hầm - dùng bao cát chẹn cửa ngách rồi tỳ lưng vào đó cho hết buổi giặc càn. Xã đội trưởng, trong một buổi họp cứ lấm lét nhìn Hoà, sợ Hoà đưa ra phê bình. Nhưng Hoà đã quên chuyện đó rồi. Trong cảnh nay sống mai chết, không bao giờ Hoà đem chuyện kín đáo, có khi thiêng liêng nữa, kiểu như chuyện anh xã đội trưởng với mình ra phê bình trước tập thể.

Khi đã 23 tuổi, Hoà kết hôn với một cán bộ trinh sát đơn vị tôi. Những ngày Tết Mậu Thân, Hoà dẫn đường cho quân chủ lực đánh vào thành phố và cũng xốn xang nhận ra đứa con nhỏ nhoi đang quẫy đạp trong lòng. Hoà nới dần thắt lưng đạn quanh người cho con lớn dần lên... Và cho đến hôm nay, Hoà giao trọng trách cho tôi đặt tên con, làm sao tôi không xao xuyến được! Biết bao tên hay để đặt cho bé nhưng nghĩ đến hoàn cảnh ra đời của nó, tôi đề nghị:

- Tên là Cu Hầm, được không?

Hoà cười:

- Hơi kỳ... Nhưng mà hay đấy, để kỷ niệm. Ở vùng mình biết bao đứa trẻ sinh ra trong các loại hầm.

Chờ cho cơn xúc động của Hoà qua đi, lần này tôi quyết để mình lên quan sát. Trăng rằm soi rõ những ụ súng máy, những lô cốt bằng bao cát, những xe tăng chôn nửa chìm nửa nổi. Sau một ngày chịu cái nắng nhiệt đới giữa cát bỏng, bọn Mỹ nằm la liệt trên những tấm bạt. Cái mùi Mỹ hăng hắc làm vẩn đục không gian êm ả của đêm trăng. Là lính trinh sát, tôi có thể vượt qua căn cứ này nhưng làm sao đưa được mẹ con Hoà ra? Cố chịu đau, tôi đứng ở cửa hầm thật lâu, ghi nhớ hết mọi vị trí của địch, nghĩ cách lọt ra đưa anh em vào tập kích để cứu mẹ con Hoà. Nhưng càng quan sát, càng thấy cái phân đội nhỏ bé của tôi không thể chọc thủng tuyến bố phòng của tiểu đoàn Mỹ mà vào đến hầm được. Xin lực lượng của trên lại càng không, vì tôi biết cấp trên đang có kế hoạch cho một chiến dịch lớn, không thể bộc lộ lực lượng lúc này.

Ngày thứ ba, địch tăng cường đóng chốt. Chiếc máy bay L19 lượn vòng, oang oang kêu gọi Việt Cộng đầu hàng. Chúng kêu đúng tên Hoà và vạch ra cảnh khốn cùng phải sinh nở trong lòng đất. Chúng hứa hẹn sẽ đưa Hoà vào bệnh viện và nuôi nấng đứa bé tử tế. Hoà nghe hết rồi cười mỉm. Số lương khô dự trữ đã hết. Không có cái ăn, Hoà cạn dần sữa. Cu Hầm đói, nhăn nheo trông thật tội. Chân tôi đã bị nhiễm trùng nặng, khó chịu nhất là cái mùi toả ra từ vết thương trong căn hầm thiếu dưỡng khí. Những lúc sốt cao, tôi mê sảng la hét, Hoà phải lấy tay bịt mồm tôi lại.

Đến ngày thứ sáu, Hoà nói:

- Phải ra thôi, ở mãi thế này chết cả ba.

- Bằng cách nào?

- Cậu thì hoàn toàn không lết nổi nữa rồi. Mình có cách này, xem được không...

Hoà moi cái thùng đạn đại liên chôn sâu dưới góc hầm lên, lấy ra bộ áo quần dài trắng, có thêu những bông hoa nhỏ màu tím Huế, thơm mùi băng phiến, hỏi tôi:

- Có nhớ bộ áo quần này mình mặc lúc nào không?

- Lúc còn là nữ sinh Đồng Khánh.

- Lúc nào nữa?

Tôi nhớ có lần bọn lính dù đổ quân thình lình xuống vùng tranh chấp, cần phải đánh chúng ngay mà chúng tôi không trinh sát được. Hoà xung phong đi "hợp pháp" nắm tình hình địch bằng cách mặc bộ đồ dài trắng này, đài các như một tiểu thư về thăm quê. Hoà ghi nhớ hết mọi vị trí của địch, về đến nơi là vẽ ra giấy; cứ thế, chúng tôi lên phương án chiến đấu. Tôi không biết Hoà cất giấu bộ áo quần kỷ niệm thời nữ sinh của mình lúc nào, bây giờ Hoà lấy ra, tôi vừa ngạc nhiên vừa cảm động. Hiểu ý định của Hoà nên tôi càng băn khoăn, lo lắng. Lần trinh sát trước là giữa ban ngày, lần vượt phòng tuyến này phức tạp hơn nhiều, mà Hoà lại mang theo con. Tính tới tính lui, cũng chẳng có cách nào khác. Tôi tin vào sự từng trải trong chiến đấu và vốn tiếng Anh của Hoà.

Thấy tôi im lặng lâu quá, Hoà âu yếm vuốt tay tôi:

- Bạn đồng ý nhé. Chúng mình sẽ có cách vào đưa bạn ra.

Nhìn thân hình Hoà gầy rộc như con én biển sau mùa làm tổ, nuôi con, tôi không dám nói gì nữa, sợ mình sẽ oà khóc. Tôi vẽ bản đồ chi tiết căn cứ dã chiến của Mỹ và trao đổi với Hoà cách lọt qua nó. Hoà chải tóc, thay quần áo và giấu hai quả lựu đạn vào người. Hôn vào má tôi thay cho lời từ biệt, Hoà đội nắp hầm lên. Cu Hầm được bó gọn trong tấm dù trắng. Hình như nó biết điều hệ trọng nên không cựa quậy. Còn chút sức lực nào, tôi đem ra hết, đứng lên trong miệng hầm bí mật.

Trăng sáng đến mức mặt cát phản chiếu lại át hẳn những vì sao. Đã có những đêm trăng như thế này, tôi và Hoà cùng nhau băng qua những trảng cát kéo dài mấy cây số để ra vùng biển giải phóng đón chủ lực vào đánh giặc ở vùng sâu. Cát trắng mênh mông lại di động liên tục nên dù quen đường vẫn bị lạc. Chúng tôi thường nghiêng vành tai đón gió để nhận ra hướng đi và bao giờ cái vành tai của Hoà cũng nhận hướng chính xác hơn tôi...

Bây giờ thì Hoà ôm con vào ngực như ôm chiếc cặp học trò, lững thững đi  qua trước mặt bọn Mỹ. Cái bóng con gái thon thả, vạt áo dài trắng muốt bay bay trong gió dưới ánh trăng lồng lộng tự nhiên xuất hiện giữa cứ điểm tua tủa đại liên bốn nòng và tháp pháo xe tăng làm bọn lính gác cứ há hốc mồm mà nhìn. Tôi trông thấy có thằng đưa tay làm dấu thánh giá, có thằng đứng chống nạnh mà lắp bắp điều gì đó, chỉ nghe rõ một tiếng "play girl" (gái làng chơi). Qua một tốp lính Mỹ khác, Hòa nói gì đó với chúng rồi xoay hướng đi ra biển - nơi những cồn cát không có tí cỏ, ngời ánh trăng. Tôi mừng thầm. Hoà đã chọn đúng hướng bởi vì phòng tuyến của Mỹ nơi ấy mỏng hơn và chắc là chúng ít chú ý hơn. Tôi rê khẩu AK chếch theo hướng đi của Hoà, nghe mạch máu giật liên hồi dưới nách. Hoà qua được hai tốp lính gác nữa, rồi lẫn vào bóng một chiếc xe tăng. Từ xa, tôi chỉ thấy lù lù nòng pháo của xe và cái hình khối đen ngòm của nó. Căng mắt ra để tìm Hoà nhưng mãi không thấy đâu. Có lẽ bộ áo quần dài trắng của Hoà đã làm Hoà lẫn được vào cát trắng, trăng trong. Một tốp lính tuần đi qua. Bóng Hoà lại xuất hiện. Tôi hiểu ra vừa rồi, Hoà đã khôn khéo tránh chúng. Nhưng một tốp lính tuần đang đi ngược lại tốp vừa rồi. Bóng Hoà hơi nghiêng như muốn tìm một chỗ tránh. Quanh Hoà không có vật che khuất nào ngoài cái lô cốt bằng bao cát mà trên đó, một thằng Mỹ ôm súng ngủ gật. Tốp lính xì xồ cái gì đó rồi nằm tản ra. Trong chớp mắt, đạn lửa dày đặc đan xéo quanh người Hoà. Hoà loạng choạng như bị một cơn gió xoáy thường xuất hiện đột ngột ở vùng cát ven biển Trị - Thiên, rồi chững lại, vung tay. Một chớp lửa loé lên kèm theo tiếng nổ không âm vang lắm vì lựu đạn rơi vào đệm cát. Nhằm vào bọn lính tuần, tôi xiết cò hết nửa băng đạn. Súng địch rộ lên khắp mọi phía. Xe tăng rú máy ầm ĩ. Tiếng bọn chỉ huy quát tháo loạn xạ. Lẫn trong các âm thanh hỗn độn đó, tiếng Cu Hầm khóc ngằn ngặt. Hoà vẫn ôm chặt con vào ngực, cố chống lại sự lảo đảo. Trong ánh chớp nhằng nhịt của các loại đạn, tôi lại thấy Hoà vung tay, nhằm vào một tốp lính Mỹ đang lao tới mà liệng lựu đạn. Tôi còn kịp thấy tà áo dài của Hoà bay lộng lên lần nữa và trong lúc tôi gục xuống trên miệng hầm vì bị một vết đạn vào bả vai, hình như tai tôi còn đọng lại cái tiếng phần phật của tà áo dài đó...

Chưa lành vết thương tôi đã móc nối cơ sở nội tuyến để tìm tung tích Cu Hầm. May mắn cho tôi là một cơ sở có người bà con làm phiên dịch cho đơn vị Mỹ đã giết Hoà nhặt được Cu Hầm trên đồi cát và gửi vào cô nhi viện. Một người đàn bà đơn độc, phúc hậu ở Huế xin cu Hầm từ cô nhi viện về nuôi. Cơ sở của tôi đã tìm được địa chỉ người đàn bà ấy nhưng chị đã bế Cu Hầm vào Sài Gòn...

Ba mươi lăm năm qua, tôi cố tìm Cu Hầm nhưng vẫn chưa lần ra đầu mối. Khi đọc câu chuyện này, quý bạn nào biết cu Hầm ở đâu, xin chỉ dùm.

P.H

(178/12-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • VĨNH NGUYÊN                Truyện kýSau “vụ” gặp em, tôi băn khoăn lắm lắm. Là bởi trước đó - trước quả rốc-két mà chiếc F4H phóng xuống và em bị thương dưới đùi, em đang chờ tháo dây thuyền ở hốc đá, còn tôi thì giữ lấy ống ti-dô cho nước vào hai cái thùng phuy trên thuyền cho em. Hai chiếc thùng phuy 400 lít nước sắp tràn đầy. Như vậy là quá đủ thời gian cho chúng ta có thể hiểu biết về nhau, tên tuổi, quê hương bản quán.

  • ĐẶNG VĂN SỞ          Ghi chépKhông hiểu sao tôi lại đi tìm anh - anh Nguyễn Đức Thuận - người anh chú bác ruột cùng chung sống dưới một mái nhà với tôi. Tôi chỉ nhớ là hồi đó chồng của cô tôi nằm mơ thấy anh, và bác vào tận Nha Trang để đi tìm anh Mậu, người đồng đội và là người chứng kiến lúc chôn cất anh.

  • NGUYỄN QUANG HÀMột buổi sáng vợ chồng anh Thảo, chị Ái đang đèo nhau, phóng xe Honda trên đường Nguyễn Trãi, một con đường lớn của thành phố Huế, bỗng có một người lao thẳng vào xe anh Thảo. Nhờ tay lái thiện nghệ, nên anh Thảo đã phanh xe kịp. Hai vợ chồng dựng xe, ra đỡ nạn nhân dậy.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGBút kýAnh đã xứng đáng với danh hiệu "Nghệ sĩ Nhân dân" của nhà nước ta phong tặng. Riêng Hội Nghệ sĩ điện ảnh Nhật Bản đã tặng cho anh giải thưởng vẻ vang dành cho người nghệ sĩ thuật lại sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh...

  • ĐÀO XUÂN QUÝĐã lâu lắm, có đến hơn hai năm, kể từ khi bị tai nạn ở chân tôi chưa đi vào các hiệu sách, kể cả các hiệu sách ở Nha Trang. Đi tới các hiệu sách thì xa quá, đi bộ thì không đi nổi, mệt và nóng lắm, mà đi xe thuê thì cũng khó, vì họ không phải chỉ đưa mình tới nơi mà còn phải đợi hàng giờ khi mình phải tìm chọn sách nơi này nơi nọ, quầy này quầy khác v.v...

  • NGUYỄN THANH CHÍHai mươi tám tuổi, nó không biết chữ và không quen đi dép, mặc áo quần dài; lầm lũi, ít nói nhưng rất khoẻ mạnh... Với nó rừng là nhà, các lối mòn trong rừng thì thuộc như lòng bàn tay... Đó là Trương Ngọc Hoàng, sinh năm 1977.

  • NGUYỄN TRỌNG BÍNHMọi chuyện xẩy ra suốt 55 ngày đêm ở đơn vị trong cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi đều nhớ như in. Thế mà, lạ lùng thay, suốt thời gian đó, hàng ngày mình ăn thế nào, lại không nhớ nổi. Chỉ nhớ mang máng có lúc ăn cơm nắm, ăn lương khô. Về giấc ngủ, có thể là tranh thủ nửa ngủ nửa thức giữa 2 trận đánh hoặc lúc ngồi trên xe trong đội hình hành tiến. Cố hình dung, tôi nhớ được bữa cơm chiều ở dinh Độc Lập, hôm 30-4-1975.

  • NGÔ MINHỞ CỬA NGÕ XUÂN LỘCSư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975.

  • HUỲNH KIM PHONG(Chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền , thống nhất đất nước 30.4.1975 - 30.4.2005)

  • LÊ HOÀNG HẢICon người từ khi cảm nhận thế giới xung quanh là lúc cảm được sự xa vắng, ly biệt... Nhớ hồi thơ dại, đứng trên bến sông trước nhà nhìn sang Cồn Hến thấy sông rộng lắm cứ nghĩ khó mà bơi sang sông được. Mỗi lần đi bộ từ nhà lên cầu Gia Hội dù chỉ vài trăm mét nhưng lại cảm thấy rất xa. Càng lớn khôn cảm nhận về khoảng cách được rút ngắn. Nhưng lạ thay khoa học ngày càng khám phá không gian, vũ trụ thì chạm đến cõi vô cùng.

  • HỒ NGỌC PHÚTôi về lại Huế sau trận lụt tuy muộn nhưng khá lớn vào gần cuối tháng 12 năm 2004. Ngồi ở quán cà phê Sơn bên bờ chân cầu Trường Tiền, nhìn sông Hương vào lúc sáng sớm sao thấy khang khác, trong có vẻ như sáng hơn ngày thường.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGĐã lâu tôi không hề nhắc đến hoa, và tôi cảm thấy tôi đã có lỗi đối với những người bạn tâm tình ấy dọc suốt một quãng đời chìm đắm trong khói lửa. Thật ra, những cánh hoa nhỏ bé và mong manh ấy đã viền con đường tuổi trẻ đầy kham khổ của tôi. Chiến chinh qua rồi có nhiều cái tôi đã quên, nhưng những cánh hoa dại dọc đường không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, như thể chúng đã được ấn vào trí nhớ của tôi thành những vết sẹo.

  • NGUYỄN THẾ QUANG(Chuyện tình chưa kể của nhà thơ Hoàng Cầm)

  • VÕ NGỌC LANTôi sinh ra và lớn lên tại vùng Kim Long, một làng nhỏ thuộc vùng cận sơn, không xa Huế là bao. Bởi thuở nhỏ chỉ loanh quanh trong nhà, trong làng ít khi được “đi phố” nên đối với tôi, Huế là một cái gì thật xa cách, thật lạ lùng. Đến nỗi tôi có ý nghĩ buồn cười: “Huế là của người ta, của ai đó, chứ không phải là Huế của tôi”, ngôi chợ mái trường, một khoảng sông xanh ngắt và tiếng chuông chùa Linh Mụ... mấy thứ ấy mới là của tôi.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhân một lần ghé ngang Paris , võ sư người Huế Nguyễn Văn Dũng đã đi thăm sông Seine. Đứng lặng lẽ bên dòng sông thơ mộng bậc nhất nước Pháp, bỗng lòng ông nhớ sông Hương quá trời. Về lại Việt , ngồi bên bờ sông Hương, ông vẫn hãy còn thấy nhớ cồn cào cái dòng chảy thầm thì trong sương mù như một nhát cắt ngọt ngào giữa trái tim đa cảm.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGTôi rẽ vào nhà Thiệp để đưa bé Miên Thảo đi học. Cô bé hét vang nhà để bắt tìm cho ra chiếc dép đi trời mưa lạc nơi đâu không biết. Miên Thảo mặc chiếc quần Jean xanh và khoác áo len đỏ, choàng một chiếc phu la cổ màu đen trông thật đỏm dáng.

  • NGUYỄN QUANG HÀSông Bồ là con sông không dài, nhưng đẹp ở về phía Bắc Huế. Phía tả ngạn, hữu ngạn vùng thượng lưu sông là hai huyện Phong Điền và Hương Trà, vùng hạ lưu sông chảy qua Quảng Điền rồi đổ vào phá Tam Giang. Làng xóm hai bên bờ sông khá trù mật.

  • MINH CHUYÊN (Tiếp Sông Hương số 12-2008)

  • MINH CHUYÊN (Tiếp theo và hết)

  • LÊ HUỲNH LÂMCó thể gọi xứ Huế là thành phố của những tiếng chuông. Sự khởi đầu của một ngày, một ngày mai hun hút trong tương lai cũng như một ngày tận trong nghìn trùng quá khứ. Một ngày mà âm thanh từ đại hồng chung phát ra; vang, ngân, vọng và im bặt. Người ta gọi âm thanh đó là tiếng chuông. Vậy thì, im bặt cũng là một phần của tiếng chuông.