Bữa tiệc ngoài trời

09:16 25/09/2020

KATHERINE MANSFIELD (Anh)     

Thời tiết thật tuyệt vời. Người ta sẽ không có một bữa tiệc ngoài trời hoàn hảo hơn nếu họ không tổ chức tiệc vào ngày hôm nay.

Ảnh: internet

Thời tiết ấm áp, không có gió, bầu trời không một áng mây và được dát một dải vàng mỏng, như thường thấy vào đầu mùa hè. Những người làm vườn thức dậy từ lúc bình minh để xén cỏ và quét dọn, cho đến khi các đám cỏ và các chậu sứ mỏng, dẹt, hình hoa hồng đang được trồng hoa cúc dại trông sáng rực. Đối với hoa hồng, bạn không thể không nghĩ chúng là loài hoa gây ấn tượng mạnh đối với khách mời của một bữa tiệc ngoài trời. Đây là loài hoa ai cũng biết. Hàng trăm bông hồng hồng, vàng, theo nghĩa đen, đã nở trong một đêm. Những đóa hồng xanh cúi đầu chào, như thể chúng đang được tổng lãnh thiên thần thăm viếng.

Bữa sáng vẫn chưa xong, trước khi những người đàn ông tới giăng tấm bạt lớn.

“Mẹ muốn giăng tấm bạt ở đâu?”.

“Ồ con, không cần phải hỏi mẹ. Năm nay mẹ định để các con lo mọi thứ. Hãy quên mẹ là mẹ các con. Hãy đối xử với mẹ như với một người khách quý”.

Nhưng mẹ không thể đến để chỉ vẽ cho những người đàn ông. Cô chải tóc trước khi ăn sáng và đội mũ không vành, có hai lọn tóc nhỏ nằm dính vào hai bên má và ngồi uống cà phê. Jose, cô gái lông bông, luôn đi lại lăng xăng với áo lót lụa và khoác vét bên ngoài.

“Chị nên đi, Laura, vì chị là cô gái điệu nghệ”.

Laura đến chỗ những người đàn ông, tay cầm miếng bánh mỳ phết bơ. Bánh mỳ thật ngon khi ăn ngoài trời, ngoài ra, cô thích giúp sắp xếp mọi việc. Cô luôn cho rằng, cô có thể giúp cho mọi thứ được tốt đẹp hơn, người khác không thể giúp được như vậy.

Bốn người đàn ông mặc áo sơ mi đang đứng thành nhóm trên lối đi trong vườn. Họ khiêng những thanh gỗ có quấn vải bạt xung quanh, trên lưng là những cái túi đựng dụng cụ. Họ trông như đang suy tư. Laura ước gì giờ cô không phải cầm miếng bánh mỳ bơ nhưng cô không biết đặt nó xuống ở chỗ nào mà cũng không thể vứt nó đi. Cô đỏ mặt vì cố tỏ ra nghiêm trang và có một chút lơ đễnh khi đi đến chỗ họ.

“Chào buổi sáng!”, cô nói bằng cách bắt chước giọng mẹ cô. Nhưng giọng bắt chước giống hệt này làm cô thấy xấu hổ và trở nên lắp bắp như một đứa trẻ, “Ô, ơ, mấy chú định giăng bạt à?”.

“Dạ phải, thưa cô”, một người đàn ông gầy và cao lêu đêu nhất, mặt đầy tàn nhang đáp. Anh ta tuột cái túi đựng dụng cụ xuống, đẩy chiếc mũ ra sau gáy và cười với cô.

“Chúng tôi sắp giăng bạt ạ”.

Nụ cười của anh ta xuề xòa, thân thiện đến mức Laura thấy bừng tỉnh. Đôi mắt anh ta nhỏ, xanh đen, xinh đẹp làm sao! Cô nhìn sang người khác, họ cũng cười với cô. “Vui lên đi cô, chúng tôi sẽ không cắn cô đâu!”, họ dường như muốn nói vậy khi họ cười với cô. Những người dân lao động này dễ mến làm sao! Trời buổi sáng lại đẹp nữa! Cô không nên đề cập đến trời buổi sáng mà nên chỉ vẽ làm sao để bạt được giăng lên đẹp và hiệu quả.

“Giăng ở bãi cỏ có hoa loa kèn được không?”.

Cô lấy tay không cầm miếng bánh mỳ bơ chỉ vào khoảng đất có hoa loa kèn. Những người đàn ông quay lại nhìn theo hướng cô chỉ. Một người đàn ông mập, nhỏ con cắn môi dưới, làm một người cao to cau mày.

“Tôi không thích chỗ đó!”, người cao to nói. “Nó sẽ không bắt mắt và hiệu quả”. Anh ta quay sang Laura, xuề xòa nói, “Nếu cô theo ý tôi, tấm bạt sẽ được treo ở một chỗ làm cô lóa mắt”.

Địa vị của cô làm cô ngập ngừng trong chốc lát khi nghĩ rằng, liệu người đàn ông vừa nói từ “lóa mắt” với cô là có thiếu tôn trọng cô hay không. Tuy nhiên cô vẫn theo ý người đàn ông nhỏ con.

“Treo ở góc sân tennis này đi!”, cô đề nghị. “Nhưng ban nhạc sẽ chơi ở chỗ này mất rồi!”.

“Hừm, có cả một ban nhạc nữa à?”, một người đàn ông lao động nói. Anh ta trông xanh xao, đôi mắt đen lờ đờ nhìn lướt qua sân tennis. Anh ta đang nghĩ gì?

“Một ban nhạc nhỏ thôi”, Laura tử tế nói. Có lẽ anh ta không mấy bận tâm nếu ban nhạc là nhỏ bé. Nhưng người đàn ông cao to chen ngang.

“Nhìn nè, thưa cô, cột vào những cái cây kia. Sẽ rất hay đó!”.

Nếu cột vào các cây karaka thì các cây này sẽ bị che khuất. Chúng thật xinh, tán lá rộng, lấp lánh, có các chùm hoa vàng. Chúng như những thứ cây cối trong tưởng tượng trên đảo hoang, kiêu hãnh, đơn độc và âm thầm vươn trái, vươn lá về phía mặt trời. Tại sao lại lấy một tấm bạt che chúng lại?

Họ sẽ che chúng lại. Những người đàn ông vác cọc và đang dọn chỗ. Giờ chỉ còn lại một người. Anh ta cúi xuống nhặt một cành oải hương rồi đưa lên mũi và ngửi. Khi thấy cử chỉ đó của người đàn ông, Laura quên hẳn mọi suy tư về cây karaka, ngạc nhiên tự hỏi sao anh ta lại thích mùi của cây oải hương. Có bao nhiêu người đàn ông cô biết đã làm như vậy? Ồ, những người lao động tuyệt vời làm sao!, cô nghĩ. Sao cô không kết bạn với họ, thay vì kết bạn với bọn trai ngu ngốc thường khiêu vũ với cô và đến ăn tối những chiều chủ nhật? Cô phải gần gũi hơn với những người đàn ông như thế!

Thật là lỗi lầm, cô nghĩ, nếu phân biệt giai cấp. Cô đứng nhìn người đàn ông cao to đang vẽ cái gì đó vào mặt sau của một tờ giấy bọc. Bức tranh vẽ này có thể sẽ bị cuộn lại hoặc có thể sẽ được treo lên. Với cô, cô không phân biệt giai cấp một chút nào, dù chỉ nhỏ như một nguyên tử. Tiếng của chiếc búa gỗ vang lên. Một vài người hát, một vài người huýt sáo. “Ổn không thằng bạn?”. Gọi là “thằng bạn” nghe sao thân mật quá! Cô thật vui sướng khi tỏ ra cho người đàn ông cao to biết là cô xem anh ta như người nhà và ghét những thành kiến ngu xuẩn. Cô cắn một miếng bánh mỳ bơ và nhìn bức tranh nhỏ mà người đàn ông đã vẽ. Cô thấy mình cũng là dân lao động.

“Tục, tục, tục”, người nấu ăn kêu như một con gà mái đang bị bối rối. Sadie lấy hai bàn tay vỗ vào hai má, như thể cô đang bị đau răng. Hắn nhăn mặt lại khi cố hiểu Sadie đang muốn gì. Chỉ có người giao hàng là có vẻ tĩnh tại. Anh ta có một câu chuyện.

“Có chuyện gì? Có chuyện gì vậy?”.

“Có một tai nạn khủng khiếp”, người nấu ăn nói. “Một người đàn ông bị giết”.

“Một người đàn ông bị giết! Ở đâu? Tại sao? Khi nào?”.

Nhưng người giao hàng tỏ ra không vồn vã.

“Cô biết cái nhà nhỏ ở phía dưới kia không? Biết không? Chắc chắn cô biết. Vâng, có một người làm nghề đánh xe ngựa trẻ, tên là Scott. Ngựa anh ta quay ngang trước một chiếc xe hơi chạy bằng động cơ điêzen ở góc đường Hawk sáng nay và anh ta bị té lộn đầu. Sau đó, anh ta tử vong”.

“Tử vong!”, Laura kinh ngạc nhìn người giao hàng.

“Tử vong khi người ta lật anh ta lên”, người giao hàng hứng thú kể. “Người ta mang thi thể anh ta về nhà khi tôi đang đi đến đây”. Anh ta nói với người nấu ăn, “Ông ấy bỏ lại vợ và 5 con nhỏ”.

“Jose, đến đây”, Laura kéo tay em gái mình và lôi cô đi ngang nhà bếp tới cạnh cánh cửa làm bằng vải len tuyết màu xanh. Cô ngập ngừng và tựa vào cánh cửa. “Jose!”, cô run rẩy nói, “Chúng ta có thể dừng mọi thứ lại được không?”.

“Dừng lại mọi thứ à chị Laura?”, Jose kinh ngạc hỏi. “Ý chị muốn gì?”.

“Dừng bữa tiệc lại”. Tại sao Jose vờ vịt?

Nhưng Jose vẫn tỏ ra ngạc nhiên. “Dừng bữa tiệc lại à? Chị Laura ơi, vô lý lắm. Chúng ta tất nhiên không thể. Không ai muốn vậy. Dừng lại là quá vô lý”.

“Nhưng chúng ta không thể tiệc tùng khi có người chết ở ngoài cổng”.

Việc dừng tiệc thật là vô lý. Có mấy ngôi nhà nhỏ nằm ở dưới chân một con dốc dẫn lên nhà Laura. Có một con đường rộng chạy ngang chân con dốc. Sự thật, hai ngôi nhà không nằm gần nhau. Những ngôi nhà nhỏ đó thật xấu xí, làm cho khu vực trở nên dơ bẩn. Chúng được sơn bằng màu nâu chocolate. Trong các khu vườn ở đó chẳng có gì ngoài những cuống bắp cải, gà mái dịch và các thùng khoai tây. Những ngọn khói nghèo khổ bay ra từ các ống khói. Chúng lưa thưa chứ không mạnh mẽ, uốn cong và có màu bạc như khói bốc lên từ các ống khói nhà Sheridan. Con hẻm của họ là nơi sinh sống của những người làm nghề giặt giũ, quét rác và sửa giày. Có một nhà khác có cổng nhà làm bằng các lồng chim nhỏ bị vứt đi. Trẻ em ở đó lúc nhúc. Khi còn bé, bọn trẻ nhà Sheridan bị cấm không được đến đó vì bố mẹ chúng không muốn chúng phải nghe những thứ ngôn ngữ bụi đời và bị nhiễm các thói hư. Nhưng khi đã lớn, Laura và Laurie thi thoảng cũng có đi vơ vẩn qua đó. Khu vực ấy thật dơ bẩn và đáng ghê sợ. Hai anh em bước đi mà thấy lạnh xương sống. Nhưng người ta cần đến mọi nơi và thấy mọi thứ. Do đó, chúng muốn đi.

“Hãy nghĩ tới việc ban nhạc sẽ làm cho người phụ nữ nghèo đó thêm đau khổ”, Laura nói.

“Ô, chị Laura!”, Jose khó chịu và nghiêm túc nói. “Nếu chị cứ cho là các ban nhạc phải dừng chơi khi ai đó gặp tai nạn thì chị sẽ phải luôn sống một cuộc đời vất vả. Em có phần tiếc cho chị. Em thấy thương cho chị”. Mắt cô ấy mở to. Cô nhìn chị mình như vẫn thường nhìn khi họ còn bé và đùa với nhau, “Chị không thể dùng tình cảm để đem một người dân lao động say xỉn thường xuyên trở lại cuộc đời!”, cô nói nhỏ nhẹ.

“Say xỉn! Ai nói với em là ông ấy say xỉn?”. Laura nghiêm nghị nhìn Jose nói. Như thường thấy trong các trường hợp như trường hợp đang diễn ra, cô nói, “Chị sẽ nói thẳng với mẹ!”.

“Chị nói đi”, Jose thì thào.

“Mẹ ơi, con vào được không?”, Laura vặn nắm cửa và nói.

“Được, con yêu. Sao, có chuyện gì vậy? Sao con tái mặt vậy?”. Bà Sheridan đang thử một chiếc mũ mới ở bàn trang điểm và quay ra.

“Mẹ ơi, có một người bị chết”, Laura bắt đầu nói.

“Không phải ở trong vườn nhà ta?”, bà mẹ ngắt lời.

“Dạ không, không ạ!”.

“Ồ, vậy thì mẹ sợ gì?”. Bà Sheridan thở dài nhẹ nhõm và cởi chiếc mũ đặt lên hai đầu gối.

“Nhưng mẹ ơi, nghe con nói nè”, Laura nói. Cô nghẹn lời, hụt hơi khi kể lại chuyện người chết. “Tất nhiên chúng ta phải dừng bữa tiệc lại, phải không mẹ?”, cô van nài. “Ban nhạc và khách khứa sẽ đến. Người ta sẽ phải nghe thấy chúng ta. Họ là hàng xóm gần”.

Dù Laura đang kinh hãi nhưng mẹ cô cũng cư xử như Jose. Thật khó chịu hơn khi thấy bà đang buồn cười. Bà từ chối lắng nghe Laura một cách nghiêm túc.

“Này Laura, con cứ bình thản đi. Vụ tai nạn này cũng chỉ như những vụ khác. Nếu người ta chết thường... Mẹ không thể hiểu được là sao người ta lại có thể sống được trong các cái lỗ chật chội như thế... Chúng ta vẫn tiếp tục bữa tiệc, được không con?”.

Laura nói “dạ” nhưng cô thấy bữa tiệc là sai trái. Cô ngồi xuống ghế sofa và đưa tay nắm chặt diềm xếp nếp của chiếc nệm.

“Mẹ, chúng ta có phải là những kẻ vô tâm không?”, cô hỏi.

“Này con!”, bà Sheridan đứng dậy và đến bên Laura, tay cầm chiếc mũ. Trước khi cô có thể nói gì đó, mẹ cô đã đội chiếc mũ lên đầu cô, “Con à!”, bà mẹ nói, “Chiếc mũ này là của con. Nó được may cho con, mẹ đội không hợp với tuổi. Mẹ chưa bao giờ thấy con đẹp như thế này. Nhìn nè con!”. Bà cầm chiếc gương cầm tay lên.

“Nhưng mẹ ơi...”, cô lại nói mà không nhìn mình trong gương, cô quay sang chỗ khác.

Lần này, bà Sheridan lại mất kiên nhẫn như Jose.

“Laura, con thật vô lý!”, bà lạnh lùng nói. “Những kẻ đó không đáng để chúng ta nể nang. Thật là vô tâm nếu hủy hoại niềm vui của mọi người như con đang muốn làm”.

“Con thật không thể hiểu được”, Laura nói và đi nhanh về phòng mình. Ở phòng mình, điều đầu tiên cô tình cờ thấy là hình ảnh một cô gái dễ thương trong gương, với chiếc mũ màu đen, vành thêu hoa cúc dại vàng, có gắn một chiếc ruybăng nhung đen. Cô chưa bao giờ thấy cô như lúc này. Mẹ có nói đúng không?, cô nghĩ. Cô hy vọng mẹ cô nói đúng. Cô có quá vô lý không? Có lẽ cô đã vô lý. Bỗng cô nghĩ đến người góa phụ xấu số đó và những đứa trẻ mồ côi cùng thi thể đang được khiêng vô nhà. Nhưng những hình ảnh này dường xa mờ, không thực, như ảnh trên báo. Sau bữa tiệc, mình sẽ nghĩ lại... Dù sao, kế hoạch phải được tiến hành một cách tốt nhất.
 

Minh họa: Đặng Mậu Tựu

Bữa trưa xong lúc 1 giờ 30. Vào lúc 2 giờ 30, mọi người vào tiệc. Các thành viên ban nhạc mặc áo khoác xanh đã đến và sắp đặt nhạc cụ ở một góc sân tennis.

“Cô ơi!”, Kitty Maitland nói ngọng nghịu, “Họ có phải là những con ếch không? Cô sắp xếp họ đứng quanh một cái ao, còn người chỉ huy ban nhạc thì đứng trên một chiếc lá ở giữa ao!”.

Laura đến và chào mọi người khi họ đang đi vào phòng để quần áo. Thấy anh mình, Laura lại nghĩ về vụ tai nạn. Cô muốn nói với anh. Nếu Laurie cũng như mọi người thì bữa tiệc vẫn diễn ra. Cô đi theo anh mình đến tận hành lang.

“Laurie!”.

“Chào em!”. Anh ta đã đi tới giữa cầu thang nhưng khi quay lại và thấy Laura, anh bỗng phình hai má và giương mắt nhìn cô. “Chúa ơi, em trông thật tuyệt vời”, Laurie nói. “Chiếc mũ thật số dách?”.

Laura nói yếu ớt, “Vậy sao anh?” và cười với Laurie. Cuối cùng, cô không nói điều đó với anh mình.

Rồi những suối người tuôn đến. Ban nhạc bắt đầu chơi. Những người hầu bàn được thuê chạy từ nhà ra nơi tổ chức bữa tiệc. Khắp nơi, từng cặp dạo bước hoặc cúi xuống các cụm hoa, chào nhau hoặc lảng vảng trên bãi cỏ. Họ như những cánh chim rực sáng đậu xuống vườn nhà Sheridan chiều nay, trên đường bay tới một nơi nào đó. A, thật vui khi đang ở cùng với những người hạnh phúc, đang véo má, bắt tay nhau, cười trong mắt nhau.

“Ồ Laura yêu quý, cô trông đẹp làm sao!”.

“Chiếc mũ thật tuyệt!”.

“Laura, cô trông rất Tây Ban Nha! Tôi chưa bao giờ thấy cô xinh như hôm nay!”.

Laura tươi vui và nhã nhặn nói chào... “Các cô chú uống trà nhé? Thêm kem không ạ? Kem trái cây thật đặc biệt”. Cô chạy tới chỗ bố mình và hỏi, “Bố, có cần mang thứ gì đó cho ban nhạc uống không ạ?”.

Buổi chiều vui dần chín, dần nhạt phai và dần khép nụ.

“Chưa bao giờ có một bữa tiệc vui hơn...”. “Quá thành công...”. “Thật là...”.

Laura giúp mẹ nói lời chia tay. Họ đứng cạnh nhau trên hành lang cho đến khi mọi người ra về hết.

“Kết thúc vui vẻ, thật vui. Cảm ơn Chúa”, bà Sheridan nói, “Laura, tập trung mọi người lại. Mẹ thật mệt. Bưng cho mẹ một ly cà phê lạnh. Vâng, thật mãn nguyện. Nhưng ô, tiệc với tùng. Tại sao tụi con lúc nào cũng muốn có tiệc?”. Mọi người ngồi quây quần dưới tấm bạt giờ không còn đông đúc người.

“Ăn sandwich đi bố! Em làm giấy bọc đó”.

“Cảm ơn em”, ông Sheridan cắn một miếng và miếng sandwich bị mất một góc. Ông cắn tiếp. “Anh nghĩ chắc em chưa biết có một vụ tai nạn chó chết xảy ra hôm nay”, ông nói.

“Ồ anh, em biết”, bà Sheridan nói và nắm tay chồng. “Nó suýt làm hỏng bữa tiệc. Laura khăng khăng đòi hoãn tiệc”.

“Ô, mẹ!”, Laura không muốn bị mẹ trêu chọc.

“Cũng là chuyện đáng ghét”, bà Sheridan nói. “Thằng cha đó cũng có vợ rồi. Nó sống dưới dốc, bỏ lại vợ và một tá con nheo nhóc. Người ta nói vậy”.

Mọi người im lặng một cách khó hiểu. Bà Sheridan cầm chân ly cà phê đẩy tới đẩy lui. Bố có vẻ sống sượng...

Bỗng mẹ ngước lên. Trên bàn còn rất nhiều bánh mỳ sandwich, bánh ngọt, bánh kem chưa ăn. Tất cả đang chờ để bị vứt đi. Một ý nghĩ lóe lên trong bà.

“Được”, bà nói. “Bỏ hết vô rổ rồi mang cho cái con mạt rệp chết chồng. Dù sao chúng cũng rất tốt cho bọn trẻ con của nó. Con đồng ý không? Chuẩn bị mang đi đi, Laura!”. Bà đứng dậy. “Đưa mẹ cái rổ to để trong tủ”.

“Nhưng mẹ ơi, như vậy có hay không?”, Laura nói.

Một lần nữa, bà có vẻ chẳng quan tâm đến lời của Laura. Ăn bánh vụn của một bữa tiệc! Người phụ nữ vừa chết chồng có muốn như vậy không?

“Hôm nay con sao vậy? Một, hai giờ trước con tỏ ra thương xót còn giờ thì...”.

Ồ, vâng! Laura chạy đi lấy rổ. Mẹ cô bỏ đầy bánh vụn, bánh thừa vào.

“Con mang đi đi”, mẹ cô nói. “Chạy xuống như con thường chạy. Ồ khoan, mang theo hoa huệ trắng nữa”. Loại người đó rất thích hoa huệ trắng”.

“Người ta đang chết đuối mà sẽ vớ được cọc đó”, Jose thực tế nói.

Đúng vậy! Và cũng thật đúng lúc. “Chỉ có một rổ thôi mà con...”, mẹ cô nói với theo khi đưa cô ra khỏi mái che là tấm bạt lớn. “Đừng vì bất cứ lý do nào mà...”.

“Gì hả mẹ?”.

Đừng. Đừng nói những điều chẳng hay với một cô gái mới lớn! “Không có gì! Con đi đi!”.

Trời đã chạng vạng khi Laura đi đến cổng vườn nhà người vợ có chồng chết. Một con chó to chạy ra, trông như một bóng ma. Con đường sáng lập lòe. Dưới thung lũng, các ngôi nhà tồi tàn thu lu trong bóng tối. Im ắng làm sao! Laura đang bước xuống dốc, đến nhà có người chết nhưng cô không nghĩ như vậy. Tại sao vậy? Cô dừng lại một phút. Dường như đối với cô, những nụ hôn, những giọng nói vui, những tiếng chén nĩa chạm nhau, tiếng cười và mùi cỏ thơm vẫn còn đâu đó trong cô. Trong cô, không còn chỗ cho những thứ khác. Lạ kỳ sao! Cô ngước nhìn bầu trời nhợt nhạt màu và tất cả những gì cô nghĩ là: “Vâng, bữa tiệc thành công thật mỹ mãn!”.

Con đường rộng giờ đã hết. Con hẻm bắt đầu, tối tăm, có màu khói. Phụ nữ mang khăn choàng và đàn ông đội mũ không vành, may bằng vải tuýt hối hả bước đi. Đàn ông lởn vởn bên các hàng rào làm bằng cọc, trẻ con chơi đùa ở các ô cửa. Có giọng hát ậm ừ vang lên trong các ngôi nhà ọp ẹp. Một ngôi nhà có ánh đèn le lói và có một người đi ngang qua cửa sổ, như cua bò. Laura cúi đầu bước đi. Cô ước gì giờ mình có một cái áo khoác. Áo cô đang mặc rực sáng làm sao! Chiếc mũ lớn với dải ruy băng nhung xinh xắn làm sao! Ước chi nó là chiếc mũ khác! Người ta đang nhìn cô phải không? Chắc vậy! Cô biết rằng đi đến đây là sai lầm. Cô có nên quay trở lại không?

Không, muộn rồi! Ngôi nhà cần đến đã ở trước mặt. Đúng vậy. Một nhóm người dơ bẩn đang tụm lại bên ngoài. Cạnh cổng có một bà già, rất già ngồi trên ghế, tay cầm nạng đang nhìn cô. Bà ta giẫm chân lên một tờ báo. Người ta im lặng khi thấy Laura đến gần. Nhóm người giải tán. Cô như thể đang được chờ đợi và được biết trước là sẽ đến.

Laura rất hồi hộp. Cô hất dải ruy băng nhung ra sau vai mình và hỏi một người phụ nữ đứng cạnh bên, “Đây có phải là nhà cô Scott không ạ?”. Người phụ nữ cười một cách kỳ quái và nói. “Đúng vậy, cô gái”.

Ô, cần phải thoát khỏi nơi này! Cô như muốn nói, “Chúa ơi, cứu con!”, khi cô bước trên một lối đi nhỏ và gõ cửa ngôi nhà. Hãy tránh xa những cặp mắt đang nhìn mình hau háu! Hãy lấy gì đó trùm kín mình lại, trùm bằng khăn choàng của những người phụ nữ ở đây cũng được! Cô quyết định là sẽ đặt cái rổ xuống và bỏ chạy. Tôi không cần phải mang rổ không về!

Cửa mở. Một người phụ nữ nhỏ thó, vận đồ đen từ trong bóng tối bước ra.

Laura nói, “Cô là cô Scott phải không ạ?”.

Cô ngạc nhiên khi thấy người phụ nữ trả lời, “Mời cô vào” và sắp đóng cửa lại.

“Không”, Laura nói. “Tôi không muốn vào. Tôi chỉ muốn đặt cái rổ xuống mà thôi. Mẹ tôi gởi...”.

Người phụ nữ nhỏ thó đang đứng trong bóng tối dường như chẳng nghe cô nói. “Mời cháu đi hướng này”, cô ta nói bằng giọng xun xoe và Laura đi theo cô ta.

Cô thấy mình đang ở trong một cái nhà bếp chật hẹp, tồi tàn được thắp sáng bằng một ngọn đèn dầu tù mù. Có một người phụ nữ đang ngồi trước đống lửa.

“Chị ơi”, người phụ nữ dẫn cô vào nói. “Có một cô gái trẻ tới”. Cô ta quay sang Laura và nói ý nhị. “Đây là chị gái của cô. Cháu sẽ an ủi chị chứ?”. “Ô, tất nhiên!”, Laura nói. “Nhưng xin đừng... Tôi chỉ muốn đi ra...”.

Vào lúc đó, người phụ nữ ngồi bên đống lửa quay ra. Khuôn mặt cô ta sưng phù, đỏ gay, hai mắt thì lòi ra, đôi môi cũng sưng vù, trông rất dễ sợ. Cô ta dường như không biết tại sao Laura lại đến đây. Điều này có nghĩa là gì? Tại sao có một người lạ mang một cái rổ đứng trong nhà bếp? Khuôn mặt cô ta lại trở nên cau có.

“Ồ, được”, người phụ nữ dẫn Laura vào nói. “Tôi sẽ cảm ơn cô gái trẻ này”.

Cô ta lại nói, “Cháu sẽ an ủi chị chứ? Tôi chắc là vậy”. Khuôn mặt cô ta cũng sưng phù và cố xun xoe cười.

Laura chỉ muốn thoát đi. Cô trở lại lối đi. Cửa mở. Cô chuẩn bị bước thẳng vào phòng ngủ, nơi người chết đang nằm.

“Cháu muốn nhìn ảnh không?”, cô em gái nói và chạm nhẹ vào Laura. “Đừng sợ, cô gái trẻ!”. Với giọng vừa trìu mến vừa quỷ quái, cô ta nói khi vui vẻ kéo tấm màn che cửa phòng ra. “Đây là bức ảnh của ảnh. Chẳng có gì khác nữa đâu. Đi theo cô nào!”.

Laura đi theo.

Có một người đàn ông trẻ đang nằm ngủ rất say, như đang nằm ở đâu đó rất xa xôi và vô cùng bình thản. “Chú ấy đang mơ màng. Đừng bao giờ đánh thức chú ấy dậy. Đầu chú nằm lún trên chiếc gối, hai mắt nhắm nghiền, không còn thấy gì nữa. Chú không thôi ước mơ. Bữa tiệc ngoài trời, cái rổ, áo dài ren có hề chi đến chú? Chú xa cách tất cả những thứ đó. Chú thật đẹp đẽ và tuyệt vời. Khi người ta cười nói, khi ban nhạc đang chơi, chú vẫn nằm thảnh thơi. Hạnh phúc..., hạnh phúc...”. “Mọi thứ đều tốt”, người đang ngủ nói. “Mọi thứ đâu vẫn vào đấy. Tôi hài lòng”.

Có những lúc bạn phải khóc. Cô cũng muốn đi ra mà không nói gì với người chết. Laura thổn thức như một đứa trẻ.

“Hãy thứ lỗi cho tôi vì tôi đã mang chiếc mũ này!”, cô nói.

Lần này cô không đợi cô em gái. Cô đi ra cửa, bước xuống lối đi, băng qua đám người đen đúa. Ở góc con hẻm, cô gặp Laurie.

Cậu ta bước ra từ bóng tối. “Em đó hả, Laura?”.

“Dạ”.

“Mẹ đang bồn chồn chờ em. Mọi việc ổn không?”.

“Ổn mà, anh Laurie!”. Cô nắm lấy cánh tay cậu ta và tiến sát vào cậu.

“Anh nghĩ chắc em không phải khóc, đúng không?”, anh trai cô hỏi.

Laura lắc đầu. Cô đã khóc.

Laurie choàng ôm vai cô. “Đừng khóc”, cậu nói bằng giọng ấm áp, yêu thương. “Ở đó thật kinh hãi phải không?”.

“Không phải”, Laura thổn thức nói. “Ở đó đơn giản là tuyệt vời. Nhưng, anh Laurie...”. Cô ngập ngừng nhìn anh mình. “Đời là thế ư?”, cô lẩm bẩm. Nhưng đời cụ thể là thế nào cô không thể giải thích. Không có vấn đề gì. Anh cô hiểu.

“Đời không thế thì sao, em gái?”, Laurie nói.  

Trần Ngọc Hồ Trường
dịch từ nguyên bản tiếng Anh trong 50 Great Short Stories, Milton Crane biên soạn, Bantam Book, New York, 2005.  
(TCSH378/08-2020)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Salman Rushdie (1947), nhà văn và người viết tiểu luận, gốc Ấn, hiện sống tại Mỹ, là tác giả của nhiều tiểu thuyết gây tiếng vang, như Những đứa con của nửa đêm, được trao giải Booker, năm 1981, và cả những tiểu thuyết gây tranh cãi như Những vần thơ của Satan, 1988. Văn phong Rushdie thâm trầm, khoáng lộng, hài hước và tươi mới.

  • FRANK O’CONNOR  

    Khi tôi tỉnh giấc, tôi nghe có tiếng mẹ ho ở nhà bếp. Mẹ bị ho đã nhiều ngày nhưng tôi không để ý. Chúng tôi sống ở Old Youghal Road, nơi mà vào lúc đó, có một con đường nhiều đồi dốc dẫn tới East Cork.


  • E. RUXACỐP (Nga)

  • ABDULRAZAK GURNAH    

    Tôi nghĩ anh ta đã nhìn thấy tôi đang tiến lại gần, nhưng vì lý do riêng nào đấy nên anh ta vẫn không có dấu hiệu gì.

  • Maurice Druon, sinh năm 1918, theo học Đại học Luật Paris. Trong chiến tranh thế giới ln thứ hai, ông tham gia lực lượng kháng chiến Pháp chng phát xít Đức, là thông tin viên Đài Phát thanh Kháng Chiến. Giải Goncourt 1948 với tác phm "Đại Gia đình" (Les Grandes Familles). Các tác phm đậm chất trữ tình của nhà văn: "Kết thúc đời người" (La Fin des Hommes), "Hẹn gặp tại Địa ngục" (Rendez-vous aux enfers) phản ánh một thiên hướng theo trường phái Balzac.
    Ông đồng thời là tác giả một số tiểu thuyết lịch sử.

  • JENNIFER WALKUP   

    Tôi sẽ không nói với ai về việc chẩn đoán.
    Không hé răng với mẹ hay em gái tôi. Chắc chắn không phải Jake và có lẽ với Steve cũng không hề.

  • GRAHAM GREEN

    Cái chết đến kề như một nỗi nghiệt ngã day dứt mà ta hổ thẹn không dám thổ lộ với bạn bè hoặc đồng nghiệp.

  • ELISABETH SILANCE BALLARD

    Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Truyện khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm.

  • Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…

  • KATE CHOPIN

    Catherine O’ Flaherty sinh năm 1850 tại Saint Louis, Missouri, bố gốc người Ái Nhĩ Lan, mẹ gốc Pháp, lớn lên trong môi trường đa văn hóa, từ nhỏ đã nói tiếng Pháp đồng thời với tiếng Anh.

  • Nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sỹ, dịch giả Ấn Độ Rabindranath Tagore sinh năm 1861 tại Calcutta, Ấn Độ và mất năm 1941. Ông để lại một di sản văn học - nghệ thuật đồ sộ với hàng ngàn tác phẩm đủ các thể loại. Tagore còn là nhà yêu nước, đòi giải phóng Ấn Độ khỏi sự cai trị của Anh. Ông được trao giải Nobel văn học năm 1913.

  • O’Neil De Noux sinh ngày 29/11/1950 tại New Orleans, bang Louisiana, Hoa Kỳ. Ông là một nhà văn Hoa Kỳ có sức sáng tác mãnh liệt với nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, đã có 42 đầu sách được xuất bản. Phần lớn sáng tác của ông là truyện trinh thám hình sự, tuy nhiên ông cũng viết nhiều thể loại khác như tiểu thuyết lịch sử, truyện dành cho trẻ em, truyện khoa học viễn tưởng, kinh dị, tình cảm, v.v.

  • JASON HELMANDOLLAR

    Jason Helmandollar là một nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều truyện ngắn nổi tiếng được đăng trên các báo, tạp chí đang thịnh hành lúc bấy giờ như Encounters Magazine, Bartleby Snopes, Title Goes Here, Sideshow Fables. “The Backward Fall” là một trong những truyện ngắn hay và hấp dẫn của ông.

  • TIMUR JONATHAN KARACA

    Timur Jonathan Karaca được sinh ra ở San Francisco. Ông là bác sĩ y khoa khoa gây mê tại UCSF. Ông sống ở Oakland, nơi ông hành nghề. Karaca theo học sáng tác tại Studio Hi Nhà văn San Francisco.

  • Naguib Mahfouz (1911 - 2006) sinh ra trong một gia đình nghèo tại Cairo. Ông học triết học tại Đại học Cairo và làm công chức cho tới khi về hưu năm 1971. Mahfouz là nhà văn lớn của Arab và của thế giới. Ông có 35 tiểu thuyết, 14 tập truyện ngắn và nhiều tác phẩm kịch. Tác phẩm của ông rất phổ biến ở phương Tây. Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.
    Truyện ngắn dưới đây diễn tả bi kịch của cá nhân khi bị phụ thuộc vào kẻ khác. Tuy nhiên, như rất nhiều tác phẩm khác của văn học Arab, nó còn mang tính ẩn dụ và nghĩa hàm ẩn.

  • ALBERT LAMORISSE (Pháp)

    Albert Lamorisse là một nghệ sĩ đa tài của nước Pháp. Ông vừa viết văn, làm thơ, vừa biên kịch và đạo diễn điện ảnh. Truyện "Quả bóng đỏ" (Le Ballon Rouge) này đã được chính Albert Lamorisse dựng thành phim, rất nhiều người hâm mộ.