Biến cố

09:17 29/07/2008
SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)Tôi ngồi trong quán cà phê, cũ, vắng, và đang uống cốc nước chè của mình, bỗng tôi thấy có một vật mà ta có thể gọi là người tí hon đang đi ngang qua mặt bàn.

Đó là một gã bé tí xíu, vận bộ com-lê màu xám, tay xách cặp. Tôi ngạc nhiên đến nỗi thoạt đầu tôi không biết xử sự ra sao. Thấy người tí hon đi lướt nhanh qua chỗ bao thuốc lá, tiến lại cạnh bàn đối diện, và chẳng để ý đến tôi, tôi bèn gọi:
- Ha lô!
Gã dừng lại đoạn nhìn tôi không chút ngỡ ngàng. Rõ ràng việc tồn tại loại người to cỡ này, cỡ như tôi đối với gã, từ lâu đã là chuyện đương nhiên, đã được khẳng định rồi.
- Ha lô! - tôi gọi lần nữa, không được khéo cho lắm. - Vậy. .. ha... anh là?...
Gã nhún vai. Tôi nhận ra sự vụng về của mình.
- Phải rồi, và. .. đương nhiên, dĩ nhiên, - tôi nói luôn liến thoắng. - Hoàn toàn đơn giản...
Và đặng thoát khỏi thế bí tôi nói tiếp:
- Có gì mới không anh bạn?
Gã hoàn toàn thản nhiên khi nghe câu hỏi, và trả lời:
- Vẫn vậy.
- Đúng, đúng, - tôi đỡ lời gã một cách khôn ngoan, để canh chừng. - Chính thế.
Tuy nhiên, trong tâm can mình tôi vẫn không thể dứt bỏ cái cảm giác dị thường, sự xao động mà ngay từ phút đầu, khi tôi nhìn thấy gã, đã xâm chiếm tâm hồn tôi. Đó là một ngày bình thường, tôi già đi đều đều, tôi là công dân một nước không to, nhưng cũng chẳng phải là cực nhỏ, tôi kiếm tiền để sống, song chẳng hy vọng sẽ giầu có hơn. Bây giờ tôi hoàn toàn không có ý định từ bỏ cơ hội nắm bắt cái ý nghĩa sâu xa của cuộc đời, cái cơ hội vừa tự dưng đến với tôi.
Lấy lại tinh thần tôi nói lịch sự:
- Vẫn vậy. Nhưng mà, anh biết không, đôi lúc tôi có cảm giác, cái thường nhật chỉ là cái cớ, là bề mặt mà bên dưới nó còn chứa đựng nhiều ý nghĩa khác - những ý nghĩa vừa rộng, vừa sâu đã được mã hóa. Nói tóm lại, một vài ý nghĩa nào đó. Thực ra mối quan hệ quá gần với các nhân tố không cho phép ta đối chiếu với toàn cục, tuy nhiên cũng có thể cảm nhận được điều đó.
Gã nhìn tôi một cách thờ ơ.
- Thưa ông, - gã nói, - chúng em là đám dân lành tí hon, chúng em thì biết được cái gì nào?
- Phải, đồng ý, - tôi vuốt ve gã. - Nhưng có khi nào anh bị khổ sở vì cảm nhận, lo ngại rằng, về căn bản mọi thứ đều khác so với ta nghĩ, đó là chưa kể chắc chắn quanh ta có nhiều hiện tượng hơn là ta nhận thấy? Rằng là những kinh nghiệm vụn vặt, bình thường của chúng ta - "chưa là cái gì"? Thế có bao giờ anh định chui qua màn sương mềm mại này, cái màn sương đang che khuất tầm nhìn đích thực của chúng ta, để khẳng định, đàng sau nó là cái gì? Mong anh thứ lỗi, khi tôi cố nài như vậy, vì chả mấy khi tôi lại được trò chuyện với người cỡ như anh...
- Ô, không sao, - gã đáp với phép lịch sự thông thường. - Thế còn cái mà ông vừa nói ấy mà, con người ta suốt ngày tất bật, tội gì phải đau đầu vì những chuyện như vậy hả ông. Phải sống thôi, chắc ông tự hiểu.
Dù sao tôi chẳng thể tin điều đó. Không có thứ gì trên đời này lại khiến tôi từ bỏ cuộc trò chuyện này, một cuộc trò chuyện mà cho dù nhờ tình huống, sự sắp đặt người đối thoại, đã mang lại cho tôi rất nhiều khả năng hiểu biết, thậm chí chỉ trong ý nghĩa thể nghiệm.
- Lắm khi, anh biết không, - tôi tiếp tục, túm nhẹ gã, bằng móng tay, vào chỗ cúc áo, - tôi nghĩ rằng dù sao cũng phải làm sáng tỏ những điều bí mật. Chỗ này tôi nói về nghệ thuật. Tôi cảm thấy nghệ thuật là một vùng giáp ranh, nhưng tôi không biết nói: giáp ranh giữa cái gì và cái gì? Thôi, ta hãy tưởng tượng như thế này nhé, "Một cái gì đó" thứ nhất là tôi, còn "Một cái gì đó" thứ hai là anh. Vậy thì nghệ thuật nằm ở chỗ nào?
- Em là người vô học, thưa ông, - gã nói, cố giải thoát chiếc khuy của mình một cách vô ích. Tôi to hơn gã chừng năm mươi lần. - Mà có thể ông có lý, nhưng ông biết không, có nhiều hướng khác nhau. Còn có một thứ ở lại với con người, đó là sống thẳng.
- Sao: thẳng hả?! - tôi thét lên. Thế là tôi có đàng trước mình một người, kẻ thông qua bản thân thực tế sự tồn tại của mình đối với tôi là một bước dài về phía trước. Tôi phải tận dụng điều này. - Thế anh nghĩ gì, thí dụ, bây giờ không lan man nữa, về việc trả lời câu hỏi: cuộc đời là cái gì?
- Thưa ông, - gã giảng giải nhẹ nhàng. - Em đã nói rồi mà, chúng em là đám dân lành tí hon, làm sao mà chúng em biết hết được mọi thứ hả ông? Này nhé, đời đang trôi, ngày nối tiếp ngày, mỗi ngày phải trải qua gì đó. Mà ông là người lớn cơ mà.
- Đúng rồi: đời đang trôi? Chưa bao giờ tôi tin nó lững lờ trôi như vậy, đúng ra phải có những cái tinh tế, đáy hai lớp, hạt vàng, đúng không?
- Thưa ông, ông hãy nhìn em đây này, - người tí hon nói, không sốt ruột đến mức như ta tưởng. - Có lẽ người em nom nó như thế nào đó nên ông mới đem chuyện đó ra hỏi em phải không? Phải chăng em là cha xứ, hay giáo sư? Những cái lạ thường của cuộc sống, thưa ông, thì hay trong sách vở, nhưng đâu phải cho chúng em, những người tí hon bình thường chưa bao giờ nhận được cái gì từ trên trời rơi xuống.
- Vậy là anh nhất định không nói, anh không muốn nói? - làn sóng hớn hở, điều dễ hiểu trong những tình huống như vậy, tụt khỏi người tôi. Tôi biết rằng mình đã mất mát một cái gì đó. Tôi buông chiếc khuy áo ra. Tôi thất vọng và buồn.
- Ông tưởng là em ác ý hay sao? - anh chàng thực bụng tỏ vẻ ái ngại. - Nhưng em xin nói thật với ông, thậm chí nếu đôi lúc có kẻ nào đó nghĩ theo lối của ông, thì rồi cũng khó mà đạt được gì, bởi lẽ chúng ta bị hạn chế, thưa ông, thông qua một thực tế cụ thể với những đường viền vẽ khoanh chắc chắn. Đó là cái phải tính. Xin ông đừng có đau đầu vì những cái phi thường nào đó.
- Lời hứa? - tôi hỏi lại, có phần được an ủi.
- Lời hứa danh dự. Còn bây giờ, xin lỗi, em phải đi: cuộc sống mà. Xin hẹn gặp lại ông.
- Hẹn gặp lại anh.
Gã kết thúc cuộc du ngoạn qua mặt bàn và biến vào góc ghế đi văng.

LÊ BÁ THỰ dịch
(từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

(nguồn: TCSH số 155 - 01 - 2002)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • AMBROSE BIERCE   

    Năm 1861, chàng trai Barr Lassiter sống cùng cha mẹ và người chị ở gần Carthage, Tennesse.

  • Nassar Ibrahim là nhà văn, nhà báo người Palestine. Ông còn là nhà hoạt động xã hội, nguyên Tổng Biên tập báo El Hadaf tại Palestine. Truyện ngắn dưới đây được in lần đầu bằng tiếng Ả Rập trong tạp chí Masharef 28, số mùa thu 2005, được Taline Voskeritchian dịch sang tiếng Anh, in trong tạp chí Wordswithoutborders số tháng 11/2006.

  • THOMAS VINT

    L.T.S: Thomas Vint người Estonia, năm nay 49 tuổi. Hiện ông viết văn và sống ở Estonia (Liên Xô). Ngoài khả năng viết văn xuôi, ông còn thích vẽ. Ông đã từng triển lãm tranh ở Pháp vào năm 1988. Ông cũng đã tự minh họa cho tập truyện ngắn đầu tiên của mình.

  • JOSHUA BROWN (Mỹ)  

    “Con sẽ làm vua!” một chú lợn con nói với bố mẹ.
    Lợn Mẹ mỉm cười nhìn con. “Làm sao con có thể thành vua được khi con chỉ là một chú lợn con?”

  • RAY BRADBURY

    Theo Ray Bradbury, truyện khoa học giả tưởng khác với sự tưởng tượng thuần túy ở chỗ nó là "một dự phóng hợp lý của thực tại". Vì vậy cuộc đi dạo ngắn ngủi này nói lên những gì ông suy nghĩ - hay lo sợ - có thể dễ dàng trở thành một bức tranh thật.

  • Thomas Burke (1886 - 1945) sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện.

  • JORGE LUIS BORGES

    Jorge Luis Borges (tên đầy đủ là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, Argentina.

  • CLAUDE FARRÈRE

    Những kẻ văn minh là tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Claude Farrère (1876 - 1957) đã nhiều năm sang Việt Nam mô tả vạch trần và lên án sâu sắc chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương trong hơn 80 năm đô hộ.

  • HERMANN HESSE
    (Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)    

    Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.

  • Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
    Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
    Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.

  • ALEKSANDAR HEMON

    Đám đông xôn xao trong bầu bụi chiều nâu xỉn; họ đợi đã quá lâu rồi. Cuối cùng, Quan tổng trấn bước xuống bậc thang áp chót, dạng chân và chống nạnh ra vẻ quyền chức thường thấy. 

  • Lời dẫn: Cách đây 475 năm, vào ngày 22 tháng 2, tại thành phố Xenvia đã qua đời một người Italia tên Amêrigô, một người đã từng giong buồm liền 7 năm trời trên những vịnh ở phía Bắc và Tây châu Nam Mỹ.

  • LTS: Issac Bashevis Singer sinh tại Ba Lan. Ông là một nhà văn lớn của Do Thái. Hầu hết truyện của ông đều viết bằng tiếng Hébreu và Yiddish, tức tiếng Do Thái cổ. Với lối văn trong sáng, giản dị, có tính cách tự sự, ông thường viết về cuộc sống của những người dân Do Thái cùng khổ. Ông được tặng giải Nobel văn chương năm 1978.

  • LTS: Giải thưởng danh giá Goncourt của văn chương Pháp năm 2015 với tác giả là nhà văn Mathias Enard do Nxb. Actes Sud (Pháp) xuất bản.

  • Sinh ở Manzanillo năm 1907, Loló de la Torriente sống ở Havana từ thuở nhỏ. Bà đóng một vai trò tích cực trong cuộc chiến đấu chống lại Machado và các chế độ ủng hộ đế quốc sau đó. Bà trở thành giáo viên và là một đảng viên của Đảng Cộng sản Cuba.

  • Michel Déon sinh năm 1919 tại Paris. Sau khi tốt nghiệp ngành Luật, ông tòng quân cho đến tháng 11 năm 1942. Ở lại vùng phía nam nước Pháp bị tạm chiếm, ông cộng tác với nhiều báo và tạp chí khác nhau.

  • LGT: Alissa York sinh tại Australia và lớn lên tại tỉnh bang Edmonton, Canada, và là tác giả của năm tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm bán chạy: The Naturalist, Fauna, Effigy, Mercy, Any Given Power. Cô nhận giải Bronwen Wallace Memorial Award vào năm 1999, và đã từng được đề cử giải văn chương danh giá Scotiabank Giller Prize.

  • LGT: “Cơn Giông” là một trong các tác phẩm Nabokov, văn hào Mỹ gốc Nga, viết trong thời kỳ ông còn sáng tác bằng tiếng Nga, và được đăng lần đầu trên báo Đỵíÿ (Hôm Nay) vào ngày 28 tháng 9 năm 1924. Sau này, nó được Dmitri Nabokov, con trai tác giả, dịch lại qua tiếng Anh và đăng trong một số tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng của Nabokov. Bản dịch dưới đây được dịch giả Thiên Lương, người từng dịch Lolita, thực hiện từ bản gốc tiếng Nga.