Báu vật truyền đời

09:23 14/09/2009
NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

Minh họa: Ngô Lan Hương

Thấy nhà văn Nguyễn Trí Huân cặm cụi ghi chép, anh vui vẻ nói:

- Nhà văn hôm nay chắc có nhiều tư liệu tốt.

- Vâng! Nhiều điều hay quá anh ạ.

Huân lại tiếp tục ghi. Du ngã mình trên sạp giường rút thư nhà ra đọc “Anh ạ, em đã gần ngày sinh. Nếu con gái chúng ta đặt tên là Kim Cúc, còn con trai chúng ta đặt tên gì? Anh cố tìm cho một cái tên thật có ý nghĩa để con ta lớn lên tốt anh nhé!" Tìm một tên đẹp con đó là điều mà vợ chồng anh tha thiết. Mấy ngày nay anh nghĩ mãi chưa ra. Anh nhớ lời cha anh dặn:

- Tên người vô cùng quan trọng. Tục ngữ Trung Quốc đã đúc kết: "Cho con ngàn vàng chẳng bằng dạy cho con một nghề, dạy cho con một nghề chẳng bằng đặt cho con một cái tên tốt đẹp". Cha đặt tên con là Du, cha mong con trưởng thành. Du có nhiều nghĩa, có nghĩa là trêu ghẹo, là đi... nhưng chữ Du cha đặt cho con có nghĩa là vui vẻ, nhanh nhẹn, mưu kế, vượt qua... Cuộc đời dữ dội luôn đối mặt nhiều nan nguy, con phải can trường nhưng cũng phải mưu trí nhanh nhẹn vượt qua mọi thử thách, không bi quan, luôn vui vẻ mới sống tốt. Họ Nguyễn Văn ta trên đất Nghi Lâm xứ Nghệ thuộc dòng tộc Nguyễn Huệ, ông tổ con Nguyễn Văn Đởn là võ quan của triều Tây Sơn. Nhà ta cần cù, hiền lành, cha mẹ, anh chị con đều tham gia cách mạng, là cán bộ tốt của dân. Con phải sống sao khỏi tủi thẹn với ông cha.

Nhìn lại cuộc đời mình từ 1968 mới hai mươi tuổi đầu đã xung phong vào lính, đến nay đã mười tám năm chiến đấu khắp ở chiến trường miền Nam rồi sang giúp bạn Lào, giúp Cămpuchia, mình có lúc vụng dại, nóng nảy nhưng luôn làm được điều cha dặn. Mười lăm tấm huân chương trong đó có sáu huân chương chiến công (bốn huân chương hạng nhất, hai huân chương hạng nhì) đã ghi nhận thành công đó của mình. Mười tám năm qua ngày nào cũng cùng đồng đội đối mặt với cái chết, Du vẫn đứng vững. Những năm 69, 70 ở miền tây Quảng Trị đói quay đói quắt, vẫn dũng cảm đánh giặc lập công, đến khi mắt mờ còn hai phần mười phải ra Quảng Bình điều trị rồi lại vào tiếp tục chiến đấu. Những ngày đánh nhau ở Tân Tẹo dữ dội, cả tiểu đoàn chỉ còn lại 60 chiến sĩ, Du vẫn dũng cảm cùng đồng đội chiến đấu, được đề bạt làm đại đội trưởng. Những ngày đánh vào tây Thừa Thiên chiếm điểm cao 35 do đồng chí Trịnh Ngọc Ước chỉ huy, Du cùng đồng đội mưu trí mở đường máu vượt qua sông Mỹ Chánh hoàn thành nhiệm vụ. Sau trận đánh ấy Du được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Trận đánh đồi Ông Do, bị thương, bị vùi vẫn cố bươi đất mà lên trở về chiến đấu. Năm 1973 mới 25 tuổi Du đã được đề bạt làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9, Sư 304 - một trong những cán bộ tiểu đoàn trẻ nhất. Rồi những trận đánh Mai Lộc, cầu Thượng Nguyên, Đà Nẵng... bao ngày bao cuộc chiến đấu Du đã làm được những điều cha gửi gắm vào tên mình, nhanh nhẹn, mưu trí, gan góc, vui vẻ. Mười tám năm qua có nhiều thành công cũng có lúc vụng dại lỡ lầm nhưng không bao giờ Du phải ân hận hối tiếc, phải xấu hổ với cái tên cha mình đặt cho mình - kể cả lần Du bị kỷ luật vào hè 1975.

Hồi ấy ngày 28-4 quân đoàn 2 ở cửa ngõ Sài Gòn, chuẩn bị tấn công chiếm thành phố. Cấp trên phân công: Tiểu đoàn 7 đánh dinh Độc Lập, Tiểu đoàn 8 đánh chiếm đài phát thanh, còn tiểu đoàn 9 của Du: dự bị. Ngán quá! Du lên gặp sư trưởng Lê Công Phê xin được chiến đấu. Sư trưởng động viên:

- Tiểu đoàn cậu đã là tiểu đoàn anh hùng rồi. Để cho tiểu đoàn 9 lập công.

Du đành chịu.

Thế nhưng cuộc chiến đấu diễn ra rất mau lẹ của một cơn lốc lớn. Sáng 29-4-1975 Du dẫn đơn vị vượt qua sông Sài Gòn cùng hàng trăm xe tăng tiến vào thành phố. Đến Bộ Tư lệnh Hải quân đơn vị bị chặn lại. Địch ngoan cố đánh trả quyết liệt. Đánh mặt trước không được, Du quyết định đánh tập hậu. Anh đề nghị xe tăng hỗ trợ cắt đứt đường lui của địch. Không ngờ đây là cách đánh địch sợ nhất. Chúng rối loạn bỏ chạy. Chiếm xong Bộ Tư lệnh, Du dẫn anh em tràn sang chiếm Ngân hàng, rồi đánh chiếm Phủ Tình báo, cứu được đồng chí Nguyễn Văn Tài - Cục phó Cục Tình báo. Với chiến công đó Du được về dự hội nghị mừng công, có khả năng được công nhận anh hùng lực lượng vũ trang. Thế nhưng trước hôm đại hội, nghe tin em mình là Nguyễn Thị Liên cũng có mặt trong đoàn dân sự vào Sài Gòn, Du mừng quá đi tìm em. Em ở viện. Khi Du gặp được em thì trời đã tối. Hồi ấy các tay bắn tỉa còn nhiều, Du cùng một đồng chí trong tiểu đoàn phải ở lại. Đơn vị cử người đi tìm. Du bị khép vào tội vô kỷ luật, tất cả thành tích công lao trong chiến trận bị gạt hết. Có một đồng chí cán bộ hỏi Du:

- Cậu đi chơi, mất anh hùng có hối hận không?

Du ngẩng đầu cãi:

- Đồng chí nhầm rồi. Tôi đi tìm em tôi. Tôi vui vì cả hai anh em cùng có mặt ở Sài Gòn trong ngày trọng đại này. Còn vì niềm vui ấy mà mất đi các danh hiệu, tôi sẵn sàng. Tôi đem cái thân này đi đánh giặc là để nước nhà thống nhất, không phải để kiếm danh hiệu. Hôm nay Sài Gòn giải phóng, thế là tôi mãn nguyện rồi.

Sau đó, Du vẫn là Tiểu đoàn trưởng lên chống Phun rô ở Lâm Đồng rồi sang giúp nước bạn Lào, về học ở Học viện Đà Lạt 3 năm, học trường chuyên gia Quân sự của Bộ Quốc phòng 1 năm và giờ đây đang vui vẻ công tác với các bạn ở Cămpuchia. Ở đâu Du vẫn không đánh mất mình. Du đã có vợ có con. Vợ Du là Thái Thị Dung - giáo viên Sử Phổ thông trung học đang say mê dạy các thế hệ học sinh lịch sử vẻ vang của dân tộc trong đó có một phần đóng góp rất nhỏ của Du. Con trai đầu của Du là Nguyễn Thái Bình, chứa đựng khát vọng hòa bình muôn đời của dân tộc. Giờ đây sắp có đứa thứ hai, nếu là gái vợ sẽ đặt tên là Kim Cúc còn nếu con trai ta sẽ đặt tên là gì đây? Có người khát khao làm giàu đặt tên con là Phú, Quý, có người muốn con thông minh, thắng lợi đặt tên con là Tuấn, Thành..., người chuộng đạo đức đặt tên con là Hiếu, Nghĩa... người khát vọng sức mạnh đặt tên còn là Dũng, Hùng....; người thích các loại cây đặt tên là Tùng, Trúc, Mai, Quế..., người yêu các thứ ngọc đặt tên là Châu, Quỳnh, Dao... Còn mình một người lính, một sĩ quan sẽ đặt tên con là gì cho thích hợp? Bao nhiêu năm qua mình đã chứng kiến bao đau thương mất mát của các làng quê, của đồng đội, đã gặp bao nhiêu vẻ đẹp cao cả anh hùng, mình đã sống những ngày đáng sống, đặt tên con là gì để ghi nhớ được những năm tháng đã qua mà vững vàng đi tới? Mình muốn tên con mình chứa đựng những gì tinh hoa nhất của cha mẹ nhưng đồng thời cũng phải chứa đựng những gì cao quý nhất của dân tộc. Có kết tinh cả hai nguồn ấy nó mới vững bước tới tương lai. Nhiều người thường lấy địa danh gắn với những kỷ niệm đặt tên cho con. Đó là một ý tưởng hay. Trong óc Du lướt qua những: Ông Do, Mỹ Chánh, Tân Tẹo, Thượng Nguyên, Hải Lăng, Sài Gòn... đó là những tên đầy ý nghĩa nhưng chưa phải là nơi Du bằng lòng với mình nhất. 1062 đó là địa danh đáng nhớ. Cả một khu rừng già sau 60 ngày bám trụ chống chọi với ngàn lần đánh phá của địch, rừng già đã biến thành đồi trọc, đất đá bị đào tung lên, mưa xuống thành ao bùn, đồng đội và Du đã bám trụ vững vàng. Tự hào và đáng nhớ vô cùng. Nhưng không thể đặt tên con là Sáu Hai. Chỉ còn tên Thượng Đức.

Phải - nơi ấy là vị trí xung yếu tiền đồn phía tây của Đà Nẵng mà Nguyễn Văn Thiệu gọi là "mắt ngọc của đầu rồng", tỉnh trưởng Quảng Nam - Đà Nẵng khẳng định là "cánh cửa thép bất khả xâm phạm", có hệ thống phòng thủ hiện đại nhất Việt Nam cộng hòa: 35 lô cốt nửa chìm nửa nổi bằng xi măng cốt thép với hai lớp bao cát bao bọc cùng hệ thống giao thông hào hầm ngầm kiên cố với nhiều kho đạn lớn có thể cố thủ hàng tháng, nằm trong một vùng có hàng trăm mét hàng rào đủ các kiểu bảo vệ. Nơi ấy có tiểu đoàn 79 biệt động quân cực kỳ thiện chiến và tàn bạo, hai đại đội bảo an tinh nhuệ, một đại đội cảnh sát, 16 đội vũ trang quyết tử bảo vệ Thượng Đức. Thiếu tá quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng tuyên bố "Khi nào nước sông Vu Gia chảy ngược, cộng sản mới chiếm được Thượng Đức".

Quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng cùng sư 304 được sự hỗ trợ của Quân đoàn âm thầm hàng tháng trời chuẩn bị quyết chiếm được Thượng Đức. Trước hết phải chiếm cho được 3 tiền đồn A, B, C ở hướng tây. Ban chỉ huy sư đoàn đã quyết định hướng tiến công chính là tiền đồn A do Tiểu đoàn 7 đảm nhận. Tiểu đoàn 9 của Du được giao chiếm tiền đồn B. 5 giờ 1 phút ngày 28-7-1974 pháo ta dội bão lửa xuống đầu thù, các mũi nhất loạt tiến công. Thế nhưng căn cứ địch quá kiên cố, sự chống trả rất quyết liệt, cả 3 mũi tiến công vẫn chưa tiến lên được. Ở cửa tiền đồn B tiểu đoàn trưởng Lê Thanh Tư bị thương, rồi chính trị viên trưởng Hoàng Trọng Tình cũng bị thương phải chuyển ra tuyến sau. Du là tiểu đoàn phó, đồng chí Nguyễn Quang Sáng chính trị viên phó phải đảm nhận trách nhiệm chỉ huy. 4 ngày chiến đấu mà đoạn rào 200 mét chỉ mới phá được một nửa. Bộ chỉ huy Sư 304 ra lệnh cho Trung đoàn 66 ngừng tiến công chuyển sang phòng ngự giữ bàn đạp đã chiếm được để tổ chức cuộc tấn công mới. Tiểu đoàn 9 của Du 52 đồng chí bị thương, 55 đồng chí hy sinh trong đó 13 chiến sĩ bộc phá đều không còn nữa. Có thi hài đồng chí còn nằm phơi trên dây thép gai. Lòng Du như lửa đốt. Hồi ở động Ông Do xác đồng chí của mình bị giặc phong tỏa gần một tuần, thối rữa, trong đêm tối nhờ anh em yểm trợ Du đã vào tìm cách cõng được đồng chí ra và chôn cất tử tế. Còn ở đây chỉ có chiến thắng mới lấy được thi hài đồng đội của mình. Nhiệm vụ chiếm tiền đồn thật nặng nề nhưng không thể không hoàn thành. Phải nghĩ cách gì chiếm cho bằng được. Du lại nhớ lời của cha mình: Du là mưu kế, phải nghĩ cách gì đây?

Đến ngày mồng 5 tháng 8 có nghị quyết của Hội nghị Đảng ủy Sư đoàn, Trung đoàn 66 được lệnh tiến công. Nghĩ được một cách, Du nói với chính trị viên Nguyễn Quang Sáng:

- Đồng chí tập hợp anh em lại động viên quyết tâm chiến đấu. Khi pháo ta nã đạn dồn dập vào các lô cốt, chúng ta phải tiến vào rất nhanh. Tất cả anh em cởi quần áo dài ra vất thành một đường dài để vượt. Tôi sẽ nằm ở mỏm đầu, dẫm lên tôi mà tiến.

Nguyễn Quang Sáng băn khoăn:

- Có cần như vậy không? Nằm cố định nơi cửa mở, trước họng súng quân thù...?

- Không việc gì đâu. Cần làm như vậy để anh em vững tin hơn. Mình cũng cần quan sát. Cậu cùng đồng chí Phùng, đồng chí Ngô Vinh dẫn đại đội 11 xung kích trước.

Toàn tiểu đoàn hừng hực quyết tâm. Đại đội trưởng Ngô Vinh dẫn anh em xông lên chiếm được lô cốt bên phải và anh dũng hy sinh. Nguyễn Khắc Kình cùng tiểu đội xông lên chiếm lô cốt bên phải. Du quay lại dẫn Đại đội 10 xông lên. Tiểu đoàn đã chiếm được một phần cửa mở. Máy bay địch quần trên đầu thả pháo sáng, bắn xối xả vào trận địa. Bọn địch trong các lô cốt nhả đạn dữ dội. Du và các cán bộ chiến sĩ của Tiểu đoàn vẫn xông lên. Hoàng Văn Nam con hổ của núi rừng Tân Kỳ xứ Nghệ dũng mãnh chiếm lô cốt bên phải thọc sâu vào khu bảo an. Pháo DKZ của Sư đoàn hỗ trợ. Tiểu đoàn của Du đã chiếm được tiền đồn B, chiếm được một phần khu bảo an. Thế nhưng địch ào lên phản công, chiếm lại phần lớn đất đã bị mất. Tình thế hết sức khó khăn. Nhanh chóng quan sát, Du tìm được một vị trí thích hợp giữa khu bảo an và tiền đồn cho đơn vị chiếm giữ. Cuộc chiến đấu quyết liệt, nhiều đồng chí bị hy sinh nhưng đơn vị vẫn trụ lại được ở đó. Đêm ấy tham mưu trưởng Sư đoàn Trung tá Lê Đắc Long, cùng tham mưu trưởng Trung đoàn Thiếu tá Phạm Cải vào thẳng trận địa kiểm tra tình hình. Sau đó cán bộ chỉ huy Sư đoàn quyết định: chuyển hướng tấn công, lấy hướng tiến công của Tiểu đoàn 9 làm hướng chủ yếu. 8 giờ 30 phút ngày 7-8-1974 ta toàn thắng. Nước sông Vu Gia không bao giờ chảy ngược nhưng Sư 304 và quân dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã chiếm được Thượng Đức. Thiếu tá Nguyễn Quốc Hùng tự sát. Du vẫn quần đùi áo cộc, khẩu AK báng gập trên vai ngẩng đầu nhìn trời xanh lồng lộng thầm nói "Mẹ ơi, con còn sống! Cha ơi, ta thắng rồi. Con đã làm đúng lời cha".

Đó là trận đánh Du bằng lòng với mình nhất. Ở một thời điểm gay go nhất anh đã tìm được một cách đánh đơn giản mà hiệu quả, mở được đường vào, tạo nên một bước phát triển cho toàn cục của trận đánh.

- Ta sẽ chọn tên Thượng Đức đặt tên cho con trai của mình!

Lát sau anh lại nghĩ: Như vậy có nên không nhỉ? Nếu đặt tên ấy ta sẽ đặt lên vai con ta bao tình cảm của quân dân Quảng Nam - Đà Nẵng, đặt trên vai con ta bao mất mát hy sinh của đồng đội, đặt lên vai con ta bao hy sinh cao cả của mọi người. Ta đặt vào đó cả cuộc đời ta, cả tình yêu và nỗi đau của ta, cả chiến công dù rất nhỏ của ta lên đôi vai của con mình. Rất nặng nề. Nhưng cũng rất vinh quang. Đó là một sự thật mà con ta cũng như mọi người phải gánh vác. Đó cũng là niềm tự hào của con ta về người cha, về những người lính. Mình không có ngàn vàng, chỉ có danh dự với chiến công, chỉ có tình yêu. Đó là báu vật vô giá để lại cho con mình.

Thế nhưng, Thượng Đức trong mạch tư tưởng của dân tộc là gì? Điều này ta chưa rõ. Hỏi ai bây giờ đây? À, đúng rồi, giờ đây chỉ có Nguyễn Trí Huân mới giải nổi điều này. Sáng qua cậu ấy cứ đòi lên mặt trận. Mình hơi ngại: Nhỡ cậu ta gặp chuyện gì không may thì tiếc quá. Mình nói "Cứ ở nhà, đánh xong mình kể cho nghe, tha hồ viết". Cậu ấy quyết tâm đi mình đành phải chấp nhận. Bây giờ có cậu ta ở đây lại đâm hay:

- Này, Trí Huân ơi, Cậu chỉ giúp mình điều này.

- Điều gì vậy, thủ trưởng?

- Cậu giải nghĩa dùm mình: Thượng Đức nghĩa là gì? Tại sao dân Quảng Nam - Đà Nẵng lại gọi vùng đó là Thượng Đức.

Trí Huân suy nghĩ một tí rồi nói:

- Trong chữ Hán có hai chữ thượng: một chữ thượng trên, một chữ thượng nữa là chuộng. Thượng Đức là chuộng đức. Dân tộc Việt Nam ở đâu cũng chuộng đạo đức.

- Nhưng Đức là gì? Có phải chỉ đức hạnh không?

- Đức: chính là đạo đức, đức hạnh, là tính tốt của con người đối với con người.

Huân viết chữ đức   lên giấy rồi giải thích:

- Chữ sách bên trái là bước ngắn chỉ người đi. Đi và nhìn mười phương trời bốn phương đất học hỏi cùng một tấm lòng tạo nên chữ đức.

Du gật gù:

Hay quá. Như vậy chữ đức có nghĩa là con người phải hành động, phải quan sát học hỏi, phải cùng nhất tâm đoàn kết thương yêu nhau. Hay quá! Thượng Đức! Xong rồi!

Huân ngạc nhiên: Sao thủ trưởng bảo xong rồi?

Du tủm tỉm cười. Anh ngồi vào bàn rút bút viết thư ngay cho vợ:

"Em thân yêu! Nếu sinh con trai em hãy đặt tên con là Thượng Đức. Nguyễn Thượng Đức...".

Du nhìn vào trang giấy bằng lòng với tên đặt của mình. Con mình sẽ mang trong lòng nó nguồn mạch đạo lý cao đẹp muôn đời của dân tộc và sự hy sinh lớn lao của lớp lớp chiến sĩ trong đó có một phần xứng đáng của cha nó. Mình đã trao vào nó những giá trị tinh thần vô cùng to lớn của dân tộc. Tinh thần có vững, có đúng đắn, con mình mới vững bước được. Đó là báu vật của muôn đời mà mình chuyển giao cho nó. Mình tin nó sẽ lớn lên cứng cáp. Sau này nó có làm nên được gì cũng phải bắt đầu từ điều đó. Du sung sướng bằng lòng với mình. Anh bước ra ngoài trời; bầu trời xanh lồng lộng. Một màu xanh vĩnh hằng trong trẻo tràn đầy sức sống.


Tôi về Nghi Lộc (Nghệ An) vào một sáng hè. Đến trước trường THPT Nghi Lộc 2 tôi ghé thăm nhà Du. Giữa khu vườn rộng xanh tốt cam, na là ngôi nhà gạch bình dị của anh. Anh vẫn như xưa: quần cộc, áo cộc, ngồi hút thuốc lào cạnh chiếc bàn nhỏ giữa sân, vui vẻ đứng dậy bắt tay tôi. Chị Dung và cháu Thái Bình vừa đi họp hội đồng giáo viên về. Trong nhà một thanh niên cao to với khuôn mặt tuấn tú ra chào tôi. Tôi bị cuốn hút vào vẻ chững chạc ấy. Tôi nhìn cháu, nhìn anh. Hiểu ý tôi, anh nói:

- Cháu Thượng Đức đó. Vừa kết thúc năm thứ hai khoa Công nghệ thông tin Đại học Quốc gia. Sinh viên xuất sắc được cấp học bổng đấy.

Tôi gật gù mừng cho anh, cho cháu. Tôi hỏi:

- Anh bây giờ sống thế nào?

- Bình thường và vui vẻ. Thỉnh thoảng đi tìm hài cốt của đồng đội. Nhờ có bộ nhớ tốt, mình đã đưa được một số anh em về với quê nhà.

- Điều mong muốn nhất của anh bây giờ là gì?

- Mong con hơn cha. Mong các con sống như những khát vọng mà vợ chồng mình gửi gắm qua những cái tên: làm việc hết mình để có sự Thái Bình cho muôn nhà, muôn người, làm nên những Thượng Đức mới trong thời kỳ đổi mới của dân tộc.

Tôi lặng lẽ cúi đầu trước cốt cách của người lính.

N.T.Q
(187/09-04)


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.

  • NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.

  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).