HERMANN HESSE
(Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)
Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.
Ảnh: internet
Ziegler luôn luôn giống những con người như thế về mọi thứ và luôn luôn làm tất cả những gì mà họ làm. Anh không phải là người bất tài, nhưng cũng không có tài, anh ta thích tiền và thú vui, thích mặc quần áo đẹp và cũng e sợ như phần lớn mọi người: cuộc sống và hành động của anh bị chi phối qua những khao khát và ước vọng ít hơn so với qua những sự ngăn cấm, qua nỗi sợ hãi trước sự trừng phạt. Anh cũng có một số đức tính tốt và nói chung là một người dễ mến bình thường mà chính bản thân anh cũng thấy mình rất đáng yêu và quan trọng. Anh coi mình là một con người như bất cứ người nào trong khi anh chỉ là một cá thể, và nhìn thấy tâm điểm của mọi người trong con người mình, trong số phận của mình như bất kỳ ai. Anh chả bao giờ hoài nghi, và nếu các sự việc trái với nhân sinh quan của anh thì anh chỉ nhắm mắt tỏ ý không không tán thành.
Là người thức thời, ngoài việc rất quý trọng đồng tiền Ziegler còn rất coi trọng sức mạnh của khoa học. Thực ra, anh chẳng biết nói khoa học là gì, tuy nhiên anh nghĩ đến cái gì đó như phép thống kê và cũng nghĩ một chút đến vi khuẩn học. Có lẽ anh biết nhà nước dành bao nhiêu tiền và danh dự cho khoa học. Anh đặc biệt coi trọng việc nghiên cứu ung thư, vì cha anh chết vì bệnh này, và Ziegler nhận định, nền khoa học phát triển ở trình độ cao ngày nay sẽ không cho phép điều ấy một ngày nào đó xảy ra đối với anh.
Bề ngoài Ziegler nổi bật qua việc cố gắng mặc thứ gì đó vượt quá khả năng tài chính của mình, luôn hợp mốt của năm. Đương nhiên anh coi khinh những mốt của quý và của tháng như là sự đua đòi ngu ngốc vì vượt quá nhiều khả năng của anh. Anh chú trọng nhiều đến tư cách, dám chửi cấp trên, chửi chính quyền cùng với những người ngang hàng với mình và ở những nơi an toàn. Có lẽ tôi đang mô tả quá lâu về con người này. Nhưng Ziegler thực sự là một người trẻ hấp dẫn, và chúng tôi đã mất đi nhiều thứ ở anh. Vì anh đã gặp phải kết cục chóng vánh và lạ lùng, trái với những dự định và những niềm hy vọng chính đáng của anh.
Không lâu sau khi Ziegler đến ở thành phố của chúng tôi, một hôm anh quyết định tổ chức cho mình một ngày chủ nhật vui vẻ. Anh chưa kết thân với ai và chưa gia nhập hội nào vì còn đang do dự. Có thể đó là tai họa của anh. Thật không may khi người ta chỉ có một mình. Vì vậy Ziegler buộc phải nghĩ đến các danh lam thắng cảnh của thành phố mà anh đã dò hỏi kĩ lưỡng. Và sau khi kiểm tra cẩn thận anh quyết định đi chơi ở Bảo tàng lịch sử và ở vườn thú. Vào các buổi sáng chủ nhật thì bảo tàng mở cửa miễn phí, còn vườn thú thì giảm giá vé tham quan vào buổi chiều.
Trong bộ comple mới có cúc bọc nỉ mà anh rất thích Ziegler đi đến Bảo tàng lịch sử vào chủ nhật. Anh mang theo chiếc ba toong mảnh mai của mình, một chiếc ba toong bốn cạnh, được đánh véc ni màu đỏ mang lại cho anh phong thái đĩnh đạc và sự sang trọng, nhưng anh cảm thấy rất khó chịu khi bị người gác cửa thu giữ trước khi anh đi vào các phòng trưng bày của bảo tàng.
Ở trong các phòng rộng người ta có thể xem đủ thứ, và Ziegler, một người ngoan đạo, vô cùng khâm phục nền khoa học toàn năng cũng đang chứng tỏ sự xác thực đáng kinh ngạc của nó ở đây, khi anh tự tìm hiểu được các thông tin về nó qua những sự ghi chép cẩn thận ở các tủ trưng bày hiện vật. Những món đồ cũ như các chìa khóa cổng han gỉ, những cái kiềng đeo cổ màu xanh gỉ đồng bị gãy và những thứ tương tự mang lại cho Ziegler một sự thích thú lạ thường. Điều tuyệt vời là những người làm khoa học quan tâm đến tất cả mọi thứ khi họ am hiểu tất cả và ghi chép lại. Ziegler nghĩ, chắc chắn chẳng bao lâu nữa khoa học sẽ loại bỏ được bệnh ung thư và có thể là cả cái chết nữa.
Trong phòng trưng bày thứ hai Ziegler thấy có một cái tủ kính, bề mặt của nó phản chiếu rất rõ, nên Ziegler có thể đứng lại một lát để ngắm bộ comple, ngắm kiểu tóc, ngắm cổ áo, ngắm chiếc quần là li thẳng tắp của mình, kiểm tra xem cà vạt có còn được thắt ngay ngắn hay không với sự cẩn thận và mãn nguyện. Anh hít thở thật mạnh, vui vẻ bước tiếp và chăm chú ngắm nghía một vài sản phẩm của những thợ chạm khắc gỗ thời xưa. Anh thầm khen những người thợ tài hoa đã tạo ra những sản phẩm tinh xảo này. Anh cũng chiêm ngưỡng một cái đồng hồ đứng cổ có những bức tượng nhỏ làm bằng ngà voi đang nhảy điệu mơnuet khi điểm giờ và hết sức khâm phục những người thợ đã làm ra nó. Sau đó Ziegler cảm thấy bắt đầu hơi chán với việc đi tham quan, anh ngáp dài và liên tục rút chiếc đồng hồ bỏ túi của mình ra ngắm nghía, có lẽ anh muốn khoe nó với mọi người, nó được làm bằng vàng và là một món đồ thừa kế từ cha anh.
Ziegler thấy mình vẫn còn nhiều thời gian cho đến lúc ăn trưa nên anh đi vào một phòng trưng bày khác, nơi có thể khơi dậy lại sự tò mò của anh. Tại đây người ta trưng bày các đồ đạc của sự mê tín dị đoan thời trung cổ, những quyển sách ma thuật, những cái bùa, trang phục phù thủy và ở trong một góc phòng có cả một xưởng giả kim thuật với lò luyện, những chiếc cối, những chiếc cốc phình bụng, những chiếc bàng quang lợn khô đét, các ống bệ và nhiều thứ khác. Góc phòng này được ngăn cách bởi một dây thừng bằng len, ở đó còn có một cái bảng để dòng chữ “Cấm sờ vào hiện vật”. Nhưng vì chỉ có một mình anh ở trong phòng nên anh không ngần ngại với tay qua sợi dây thừng và sờ vào một vài thứ trong số những đồ vật ngồ ngộ. Anh đã nghe nói và đã đọc về thời trung cổ và sự mê tín dị đoan đến tức cười ở thời đó; anh không thể hiểu được, làm sao con người thuở ấy lại có thể làm việc với những dụng cụ nực cười như vậy, và tại sao người ta không làm một việc đơn giản là cấm toàn bộ những trò quỷ thuật và các dụng cụ đó. Tuy nhiên cũng từ giả kim thuật mà môn hóa học rất hữu ích ra đời. Chúa ơi! Thật lạ là người ta nghĩ rằng có thể những chiếc lò nấu kim loại của nhà giả kim thuật và toàn bộ món đồ ma thuật nực cười kia đã thực sự cần thiết, vì nếu không có những thứ đó thì ngày nay sẽ không có thuốc aspirin và bom ngạt!
Ziegler vô tư cầm trên tay một viên nhỏ màu đen, khô kiệt, nhẹ bẫng, hơi giống một viên thuốc, vân vê nó và vừa mới định đặt nó xuống thì anh nghe thấy tiếng chân người ở phía sau mình. Anh quay người lại, nhìn thấy một vị khách tham quan đã bước vào phòng trưng bày. Ziegler thấy ngượng về việc anh cầm trên tay viên thuốc, vì rõ ràng là anh đã đọc bảng “Cấm sờ vào hiện vật”. Do đó anh nắm bàn tay lại, đút tay vào túi quần và đi ra khỏi phòng trưng bày.
Mãi đến khi đi trên đường phố Ziegler mới lại sực nhớ đến viên thuốc ở trong túi quần. Anh móc nó ra và định vất nó đi, nhưng sau đó anh đưa nó lên mũi ngửi. Nó có mùi thơm nhẹ giống như mùi nhựa thông mà anh rất thích, vì vậy anh lại đút nó vào túi quần.
Bây giờ Ziegler đi vào nhà hàng, gọi món ăn, lật giở vài tờ báo, tay mân mê cà vạt và ném những cái nhìn vừa kính cẩn vừa kiêu ngạo về phía những thực khách, tùy kheo cách ăn mặc của họ. Nhưng khi đợi bồi bàn mang thức ăn cho mình Ziegler móc viên thuốc của nhà giả kim thuật mà anh đã vô tình đánh cắp ra và ngửi nó. Sau đó anh cạo nó bằng móng của ngón tay trỏ, cuối cùng anh nảy sinh sự thèm muốn ngu ngốc và đưa nó lên miệng; nó nhanh chóng tan trong mồm Ziegler mà không có vị khó chịu, cho nên anh nuốt nó xuống bụng cùng với một ngụm bia. Ngay sau đó bồi bàn cũng mang thức ăn cho anh.
Vào lúc hai giờ Ziegler nhảy xuống từ một toa xe điện, bước vào sân trước của vườn thú và mua một vé vào cửa ngày chủ nhật. Anh khoan khoái mỉm cười đi đến khu nuôi nhốt khỉ và đứng trước cái chuồng lớn của tinh tinh. Con tinh tinh nháy mắt với Ziegler, thân thiện gật đầu với anh và nói bằng giọng ồm ồm các từ: “Khỏe chứ, người anh em?” Ziegler vô cùng ngạc nhiên, hoảng sợ quay ngoắt mặt đi và nghe thấy con tinh tinh chửi ở phía sau mình khi anh bỏ đi: “Đồ kiêu ngạo ngu ngốc!”
![]() |
Minh họa: Nhím |
Ziegler đi nhanh sang chỗ những con khỉ đuôi dài. Chúng tinh nghịch nhảy nhót và gào lên: “Đưa đường đây, anh bạn!” Và khi Ziegler không có đường cho chúng, chúng nổi giận, bắt chước điệu bộ của anh, gọi anh là kẻ nghèo kiết xác và nhe răng ra với anh. Ziegler không chịu nổi điều đó, anh sửng sốt, luống cuống bỏ chạy và đi sang chỗ nuôi nhốt hươu nai và hoẵng, những con vật mà Ziegler hy vọng sẽ đối xử tử tế hơn đối với anh.
Một con nai to, dáng đẹp đứng gần lưới sắt và nhìn Ziegler. Khi đó anh vô cùng hoảng sợ. Vì từ khi anh nuốt viên thuốc ma thuật cổ thì anh hiểu được tiếng nói của các loài vật. Và con nai nói bằng đôi mắt to màu nâu của mình. Cái nhìn lặng lẽ của nó nói lên sự quý phái, sự hiền lành và sự buồn rầu, nó đang bày tỏ một sự khinh bỉ tột cùng đối với Ziegler, một sự khinh bỉ đáng sợ. Qua cái nhìn lặng lẽ, oai vệ của con nai Ziegler hiểu rằng nó muốn nói, anh, một kẻ ăn mặc lịch sự có mũ, gậy ba toong và đồng hồ thì cũng chẳng hơn gì một con bọ chét, một loài côn trùng kinh tởm và đáng ghét.
Từ chỗ con nai Ziegler bỏ chạy đến chỗ con sơn dương, từ đó đến chỗ những con linh dương, con lạc đà không bướu, con linh dương đầu bò, đến chỗ những con lợn rừng và những con gấu. Anh không bị những loài vật này lăng nhục, nhưng bị tất cả bọn chúng khinh bỉ. Anh lắng tai nghe chúng nói chuyện và qua các cuộc đối thoại của chúng biết được chúng nghĩ về con người kinh khủng như thế nào. Chúng đặc biệt ngạc nhiên về việc chính những con người xấu xí, bốc mùi hôi hám, đáng khinh kia lại được phép tự do đi lại trong những những lớp vải bao bọc cơ thể tức cười của mình.
Ziegler nghe thấy một con sư tử châu Mỹ nói với con của mình, một câu chuyện đầy nhân phẩm, khôn ngoan và sáng suốt mà anh hiếm khi nghe được ở con người. Anh nghe thấy một con báo đen đẹp bày tỏ ý kiến ngắn gọn, rành mạch trong những lời lẽ thâm thúy về lũ khách tham quan vườn thú vào ngày chủ nhật. Anh nhìn vào mắt của con sư tử lông vàng và biết được thế giới hoang dã tuyệt diệu và rộng lớn như thế nào, nơi không có các khu nuôi nhốt thú và con người. Anh nhìn thấy một con chim cắt buồn bã, kiêu hãnh đậu trên cành cây khô trong sự sầu muộn tê tái và nhìn thấy những con chim giẻ cùi chịu đựng sự giam cầm cùng với sự thắc mắc, sự nhún vai và sự hài hước.
Đờ đẫn và bứt ra khỏi những suy nghĩ của mình Ziegler lại quay về với con người trong sự tuyệt vọng. Anh tìm một ai đó hiểu được sự lo lắng và nỗi sợ hãi của anh. Anh lắng tai nghe các câu chuyện của con người để nghe được một điều gì đó dễ hiểu, gần gũi và thân mật. Anh để ý đến điệu bộ của nhiều người khách tham quan vườn thú để cũng tìm thấy ở ai đó trong số họ nhân phẩm, bản tính, sự cao thượng và tình yêu đồng loại.
Nhưng Ziegler bị thất vọng. Anh nghe thấy các giọng nói và các lời nói, nhìn thấy những cử chỉ, những điệu bộ, những cái nhìn của con người, và vì bây giờ anh nhìn mọi thứ như nhìn bằng mắt của một con vật nên anh chẳng thấy gì ngoài một đám đông xấu xa, đồi bại, giả tạo, dối trá của những sinh vật giống thú mà hình như là sự pha trộn nực cười của tất cả các loài.
Ziegler đi lang thang một cách tuyệt vọng, vô cùng xấu hổ về bản thân. Từ lâu anh đã vứt chiếc ba toong vào bụi rậm, sau đó là găng tay. Nhưng giờ đây, khi anh vứt chiếc mũ của mình đi, cởi giày, giật cà vạt ra và khóc nức nở tựa người vào lưới sắt của chuồng nai, thì anh bị bắt trong sự ngỡ ngàng của mọi người và bị đưa vào một nhà thương điên.
Phạm Đức Hùng
dịch từ nguyên bản tiếng Đức
(TCSH353/07-2018)
HANS CHRISTIAN ANDERSON
Hans Christian Andersen sinh tại Odense, Đan Mạch, thuộc gia đình bình dân, cha là thợ đóng giày, mẹ là thợ giặt. Tuy gia cảnh tầm thường, cha ông lại say mê văn học, ông có cả một tủ sách văn học quý giá. Từ sau khi cha qua đời (năm Andersen 11 tuổi), cậu bé đã được thỏa thích đọc những quyển sách cha để lại.
George Saunders - Franz Kafka
Brazil, nhà văn danh tiếng Jorge Amado nói, không phải là một quốc gia mà là một lục địa. Trong phần đóng góp mới nhất của loạt nhà văn trẻ xuất sắc được tạp chí Granta giới thiệu, họ kể những câu chuyện rộng lớn và hấp dẫn của xã hội Brazil hiện đại và ai là tương lai của nó; trong những nhà văn chưa từng được dịch và giới thiệu này góp mặt có Ricardo Lísias đã xuất bản hai tiểu thuyết rất hấp dẫn người đọc.
Xin chuyển dịch sang Việt ngữ từ bản dịch sang Anh ngữ của Daniel Hahn: “My chess teacher”.
Dương Đức dịch và giới thiệu
Daly sinh trưởng tại thành phố Winchester, bang Indiana, Hoa Kỳ. Ông có bằng Cử nhân Văn chương của đại học Ohio Wesleyan University và bằng Bác sĩ Y khoa của đại học Indiana University. Trong 35 năm, ông là bác sĩ phẫu thuật tại Columbus, Indiana. Ông từng là một bác sĩ phẫu thuật cấp tiểu đoàn trong chiến tranh Việt Nam.
AMOS OZ
Sáng sớm, khi mặt trời chưa mọc, tiếng gù của đôi chim bồ câu trong bụi cây bắt đầu trôi qua ô cửa sổ để mở.
ALBERTO MORAVIA
KATHERINE MANSFIELD (Anh)
Thời tiết thật tuyệt vời. Người ta sẽ không có một bữa tiệc ngoài trời hoàn hảo hơn nếu họ không tổ chức tiệc vào ngày hôm nay.
Shun Medoruma (sinh năm 1960) là một trong những nhà văn đương đại quan trọng nhất của Okinawa, Nhật Bản. Ông được giải Akutagawa Prize năm 1997 với truyện ngắn “Giọt nước” (Suiteki).
Có lẽ tác giả tâm đắc lắm với truyện này nên mới chọn để đặt tên cho cả tuyển tập. “The Persimmon Tree, and Other Stories (1943)” gồm 15 truyện ngắn, góp phần mang lại chỗ đứng vững vàng trong văn đàn nước Úc cho nhà văn nữ Marjorie Barnard (1897-1987), người có thể sáng tác nhiều thể loại khác nhau, kể cả phê bình và lịch sử.
MARK TWAIN
M. Twain (1835 - 1910) là nhà văn lớn của Mỹ, từng phải lăn lóc nhiều nghề lao động chân tay trước khi trở thành nhà văn, do đó văn của ông rất được giới lao động ưa chuộng.
L. TOLSTOY
Các anh em từng nghe nói rằng: mắt đền mắt, răng đền răng; còn ta nói với các anh em rằng: đừng chống lại kẻ ác. (Phúc Âm theo Matthiew V, 38, 39).
VẠN CHI (Trung Quốc)
Tôi nhớ hình như ở đây có một bến ô tô buýt. Phải, phải rồi, ngay chỗ giờ đây cô gái kia đang đứng, dưới ngọn đèn đường ảm đạm ấy. Tôi thong thả bước tới, hỏi thăm.
Peter Bichsel sinh tại Lucerne (Thụy Sĩ) ngày 24 tháng 3 năm 1935, là con của một người thợ thủ công. Ông là nhà giáo dạy tại một trường tiểu học cho tới năm 1968.
Chitra Banerjee Divakaruni sinh năm 1957 tại Calcutta, Ấn Độ. Bà học đại học tại Đại học Calcutta. Năm 1976, bà đến Mỹ học thạc sĩ và tiến sĩ, sau đó dạy văn chương tại các đại học ở đó. Bà làm thơ, viết tiểu thuyết và truyện ngắn, được trao nhiều giải thưởng văn học. Ngoài ra bà còn sáng lập tổ chức Maitri chuyên trợ giúp phụ nữ Nam Á bị xúc phạm.
SAKI
1. Saki là bút hiệu của nhà văn Hector Hugh Munro (1870 - 1916), sinh tại Miến Điện (nay là nước Myanmar) khi nước này còn là thuộc địa của Anh.
Kevin Klinskidorn trưởng thành ở Puget Sound - một vùng ven biển tây bắc bang Washington và hiện sống ở bờ đông tại Philadelphia. Anh đã được giải thưởng Nina Mae Kellogg của đại học Portland State về tác phẩm hư cấu và hiện đang viết tiểu thuyết đầu tay.
Truyện ngắn dưới đây của anh vào chung khảo cuộc thi Seán Ó Faoláin do The Munster Literature Center tổ chức năm 2015.
NAGUIB MAHFOUZ
Naguib Mahfouz là nhà văn lớn của văn học Arab. Ông sinh năm 1911 tại Cairo (Aicập) và mất năm 2006 cũng tại thành phố này. Mahfouz đã viết tới 34 cuốn tiểu thuyết và hơn 350 truyện ngắn. Cuốn tiểu thuyết lớn nhất của ông là Bộ ba tiểu thuyết (The trilogy) (1956 - 1957).
Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.
Pete Hamill sinh ngày 24 tháng 6 năm 1935, tại Brooklyn, New York, Hoa Kỳ. Ông là nhà văn, nhà báo. Ông đi nhiều và viết về nhiều đề tài. Ông từng phụ trách chuyên mục và biên tập cho báo New York Post và The New York Daily News.
Truyện này được dịch theo bản tiếng Pháp nên chọn nhan đề như trên (Je ne voulais que téléphoner, trong cuốn Douze Contes vagabonds, Nxb. Grasset, 1995) dù nó có vẻ chưa sát với nguyên bản tiếng Tây Ban Nha của tác giả (Sole Vina a Hablar por Teléfono) - Tôi chỉ đến để gọi điện thoại thôi.
Eugene Marcel Prevost, nhà văn và là kịch tác gia người Pháp, sinh ngày 1/5/1862 tại Paris, mất ngày 8/4/1941 tại Vianne, thuộc khu hành chính Lot- et-Garonne. Năm 1909, ông được mời vào Hàn lâm viện Pháp.