9 độ richte và bản lĩnh xứ Phù Tang

09:48 29/03/2011
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
Nhiều người phát hoảng khi nghe câu: động đất, sóng thần và núi lửa là “đặc sản” của Nhật Bản. Nhưng đối với người Nhật, đó là điều bình thường. Vị trí địa lý của Nhật Bản khiến nước này là một trong những quốc gia chịu nhiều thiên tai nhất thế giới. Hai mối đe dọa thường xuyên và nghiêm trọng nhất là động đất và sóng thần. Mỗi năm Nhật Bản phải chịu 7500 trận động đất nhẹ, riêng Tokyo có đến 150 trận. Hầu hết các trận động đất này quá nhẹ, không thể nhận ra, nhưng cũng có những trận động đất rất mạnh. Từ trận động đất Kanto chết chóc năm 1923, tới nay Nhật Bản đã phải trải qua 16 vụ động đất và sóng thần. Vụ sóng thần khủng khiếp gần đây nhất xảy ra năm 1993 là hậu quả của trận động đất 7,8 độ richte ở ngoài khơi phía tây nam đảo Hokkaido đã gây ra thiệt hại trên diện rộng, làm 230 người thiệt mạng và phá hủy 601 ngôi nhà.

Thảm họa kinh hoàng

Nhưng tất cả chẳng là gì với vụ động đất và sóng thần kinh hoàng nhất trong lịch sử nước Nhật ngày 11/3 vừa qua. Trận động đất mạnh 9 độ richte đã cướp mất sinh mạng 10.000, trong đó gần 3.400 người được xác nhận đã thiệt mạng, hơn 6.700 người trong diện mất tích chỉ trong vài giờ đồng hồ và kéo theo sau đó hàng trăm hệ lụy khủng khiếp mang tính thảm họa không chỉ cho nước Nhật mà cho cả thế giới. Cái giá của thảm họa này có thể lên tới 10.000 tỷ yen (120 tỷ USD) tương đương 2% GDP Nhật Bản, đó là chưa kể thảm họa môi trường sinh thái với vụ nổ nhà máy hạt nhân ở Fukushima.

Đứng trước một thảm họa chết chóc và đổ nát như thế, nước Nhật đã thể hiện bản lĩnh dân tộc mình trong cơn hoạn nạn trước những con mắt quan sát quốc tế. Động đất khiến nhà cửa đổ nát, sóng thần ồ ạt tràn vào các vùng đất duyên hải cuốn phăng tất cả những gì trên đường đi. Tất cả những khu dân cư đông đúc, nhà máy, các công trình xây dựng thoáng chốc biến thành đống hoang tàn. Nếu là bạn khi chứng kiến thảm họa này sẽ trở nên hoảng loạn, hành động lúng túng và chắc sẽ thét lên đau đớn khi nghe tin người thân bị mất tích. Trong trường hợp cả một cộng đồng đều như vậy thì đó sẽ là cấp số nhân của thảm họa.

Người Nhật xếp hàng mua dầu hỏa - Ảnh AP

Cốt cách Nhật Bản

Người Nhật đã cho chúng ta thấy bản lĩnh của họ khi đứng trước những hiện tượng này. Một loạt tin và phóng sự quốc tế trong và những ngày xảy ra thảm họa đã cho thấy một nước Nhật Bản khác, không như chúng ta tưởng. Đó là những cảnh người Nhật bình tĩnh và kiên trì đi tìm những người thân trong những đống đổ nát hay trật tự chờ đợi đến lượt mình được nhận nhu yếu phẩm. Đặc biệt, báo giới phản ánh rằng không hề có dấu hiệu hôi của, cướp bóc hay bạo lực, những điều con người có thể làm trước diễn biến đó. Thế giới đã kinh ngạc và như tờ Daily Telegraph viết: “Việc sự vắng mặt hành vi xấu xa này là hoàn toàn lạ lẫm trong xã hội loài người”. Nhiều ý kiến cho rằng, nếu thảm họa này xảy ra ở phương Tây hay bất cứ đâu khác thì đó sẽ là mảnh đất cho những nguy cơ phạm pháp.

Rõ ràng, người Nhật có một xã hội ổn định, kỷ luật tốt và được chuẩn bị sẵn sàng cho những thảm họa, một quốc gia hiện đại theo đúng nghĩa tinh thần văn minh của nó. Bằng chứng là họ đối phó với thảm họa 300 năm mới có một lần với thái độ bình tĩnh, trật tự và không hề xảy ra hoảng loạn. Bởi người Nhật đã được giáo dục kỹ những cốt cách truyền thống của họ khi gặp hoạn nạn, hơn thế nữa họ còn nghĩ đến những điều cần phải làm sau thảm họa là nhiệm vụ cứu nạn khổng lồ mà họ phải đương đầu.

Các trường hợp thảm họa, Pakistan (2005) lũ lụt ở Anh (2007) hay động đất Tứ Xuyên (2008), động đất Chile, Haiti (2010) số người chết lên cao vô lý chính vì tâm lí hoảng loạn, mất bình tĩnh gây nên, mặt khác các hành động cướp bóc, bạo lực cũng dẫn đến các hậu quả khôn lường. Báo chí đã phản ánh tình trạng phạm tội và cướp bóc diễn ra táo tợn hàng ngày, hàng giờ sau các thảm họa. Chúng ta còn nhớ rằng tình trạng hôi của tại Chile sau trận động đất năm ngoái tồi tệ đến nỗi quân đội phải nhập cuộc. Ở New Orleans, Mỹ, cơn bão Katrina cũng gây nên tình trạng cướp bóc đến mức kinh hoàng.

Với người Nhật, chuyện ai cũng có thể làm được đơn giản như là việc lấy đồ đạc của người khác gói gọn trong từ “hôi của” không nằm trong suy nghĩ của họ. Thậm chí từ ngữ này theo một chuyên gia về văn hóa Nhật là không thể tìm thấy trong từ điển của họ. Tính cách đó của dân tộc Nhật thật sự đã làm cho thế giới cảm phục, ít ra là họ tranh thủ được cảm tình của thế giới trong “quyền lực mềm” của đạo đức dân tộc.

Hành vi của người Nhật đã chứng minh họ đúng. Hoảng loạn và mất bình tĩnh chẳng giải quyết được việc gì, có khi còn gây hại. Hôi của nằm ngoài mong muốn và suy nghĩ của họ. Đó là cái lợi không chính đáng, mà không chính đáng thì không phải là điều người Nhật muốn.

Xếp hàng ngay ngắn bên ngoài một cửa hàng ở Sendai - Ảnh: CNN


Người dân trật tự xếp hàng để mua nhu yếu phẩm, trật tự để di chuyển, không chen lấn, xô đẩy. Trong cái khung cảnh thảm họa đó, chỉ có con người là trật tự hơn hẳn cái đống đổ nát sau lưng họ. Các siêu thị bán hàng giảm giá chứ không tăng giá sau khi xảy ra thảm họa để người dân có thể mua được hàng, một số cửa hàng giải khát còn phát không nước cho người di tản. Khi chạy ra từ những căn nhà chung cư, mọi người vẫn giữ đúng phép xã giao, chào nhau lịch sự, nhường đường cho nhau, không cuống cuồng xô đẩy mạnh ai nấy chạy. Đặc biệt, đến đèn xanh đèn đỏ, mọi người vẫn đứng chờ đèn hiệu, trật tự, không hoảng loạn khi di tản vì động đất. Điều này khó gặp ở những trường hợp đang nguy cấp ở các nước khác. Tại những chỗ tập trung đông người lánh nạn, mọi người gọi điện thoại, nhưng vẫn giữ ý, nói nhỏ, và che miệng, để không ảnh hưởng đến người khác.

Hầu hết những ai chạy ra khỏi nhà đều đội những chiếc mũ bảo hiểm trắng và ưu tiên cho những đứa trẻ. Giao thông bắt đầu tắc nghẽn, xe cộ đi lại đông nghịt, nhưng không hề có tiếng còi bấm inh ỏi tranh giành đường của nhau. Tất cả đều trật tự, từ tốn, chờ tín hiệu giao thông như những ngày bình thường. Mọi thứ đều trong tình trạng trật tự, có hàng có lối từ con người cho đến phương tiện. Có lẽ sẽ không ai chết đói, chết vì bạo lực trong tình cảnh đó, trừ phi họ không được tìm thấy. Tài sản của họ chỉ có thể bị mất đi bởi sự tàn phá của thiên nhiên chứ không mất đi bởi bàn tay của đồng loại.

Một hình ảnh đáng thú vị có thể gợi tưởng đến tính cách người Nhật là Cổng Toril. Đó là cánh cổng truyền thống dẫn vào ngôi đền thờ Shinto - biểu tượng của sự kết nối tâm linh giữa con người và đất. Năm 1945, một chiếc cổng Toril vẫn hiên ngang giữa đống đổ nát là một trong số ít công trình còn được nguyên vẹn sau khi bom nguyên tử dội xuống thành phố Hiroshima. Và hôm nay, tại làng Otsuchi sau trận sóng thần, động đất ngày 11/3 vẫn tồn tại trước sức mạnh khủng khiếp của thiên nhiên. Toril là bản lĩnh Nhật, là tính cách Nhật luôn bất biến trước mọi thời cuộc mà họ đã khẳng định qua hàng ngàn năm lịch sử với các diễn biến canh tân đất nước, Đệ nhị Thế chiến và hiện tượng thần kỳ kinh tế.

Người dân thành phố Sendai, nơi gần tâm chấn và bị sóng thần quét qua, xếp hàng dưới tuyết để mua nhu yếu phẩm bên ngoài một siêu thị . Ảnh: AFP/JijiPress


Tất cả vì con người!

Những người dân bình thường đã đối xử với nhau như vậy trong cơn hoảng loạn đã khiến chúng ta ngưỡng phục. Các vị nguyên thủ của Nhật cũng đã có những hành động và lời nói kịp thời để trấn an nhân dân. Thủ tướng Naoto Kan trong bài phát biểu đã đề cao khẩu hiệu “Tất cả vì con người”. Chỉ có thể vì con người lúc này mới giải quyết mọi việc, những giá trị khác là vấn đề của thời gian, của sự khắc phục còn trước mắt hãy cứu lấy những gì có thể, làm được những gì có thể cho đồng loại. Chính phủ Nhật thông báo tất cả các công sở công cộng, trường học đều mở cửa cho mọi người lánh nạn vào trú nhờ. Công tác hướng dẫn di tản được chú trọng, hàng chục máy bay lên thẳng quần đảo khắp bầu trời để điều tra diễn biến thảm họa. Tiếng loa phát thanh thông báo tình hình vang lên, giọng phát thanh chậm rãi, rõ, từ tốn, không hoảng hốt, giúp mọi người bình tĩnh lại, không hoảng loạn. Trên tivi, các quan chức chính phủ, từ Thủ tướng Kan, đều mặc quần áo bảo hộ lao động. Đặc biệt, Hoàng đế Nhật Bản Akihito lần đầu tiên phát biểu trước một thảm họa thiên nhiên kể từ khi ông lên ngôi năm 1989 rằng: “Tôi cầu nguyện bình an cho đất nước” và gửi đến mọi người dân Nhật lời nhắn nhủ: “Tôi thực sự hy vọng rằng chúng ta sẽ giữ cho tình hình không bị xấu đi”. Điều đó thể hiện sự tập trung cao độ nhất của chính phủ trong việc đối phó với động đất. Con người là tất cả những gì còn lại của đất nước này, của thế giới này. Chỉ có thể là tất cả vì con người mới mong cứu rỗi được đất nước Nhật qua cơn thảm họa.

Ngay từ thứ sáu ngày 11/3, ngày nào tôi cũng lên mạng và xem ti vi để biết về diễn biến tình hình thảm họa ở Nhật Bản. Nhiều bạn bè, người thân của tôi cũng quan tâm và biến nó thành chủ đề trao đổi sôi nổi. Những dòng tâm sự, những lời nhắn gửi cầu chúc nhân dân Nhật bước qua thảm họa, xây dựng lại đất nước vang vọng đâu đó trên những comment, blog. Người Việt Nam thật sự đã có những đồng cảm, sẻ chia với thảm họa mà người Nhật đang gánh trải.

Thảm họa, thiên tai tự nhiên là những điều chúng ta khó có thể lường trước được và thiệt hại từ chúng quả là vô lường. Chúng ta không kiểm soát được thảm họa nhưng chúng ta có thể kiểm soát và chế ngự được hành vi của mình trước những thảm họa. Mỗi người hãy là tấm gương đạo đức để kết thành bình phong ngăn được mọi thiên tai, thảm họa khi chúng diễn ra. Điều đó đã là một niềm mong mỏi và vinh dự lớn cho cả loài người trước những thử thách chống chọi với tự nhiên.

VŨ TRƯỜNG GIANG
(266/4-11)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.