DƯƠNG PHƯỚC THU (Sưu tầm, giới thiệu)
LGT: Đã từng có một cuộc xướng họa thơ trên báo với số lượng người tham gia đông kỷ lục; 1324 lượt tác giả với 1699 bài họa. Dưới đây, Sông Hương xin giới thiệu lại Vườn thơ đoàn kết do Báo Cứu Quốc - nay là Báo Đại Đoàn Kết tổ chức xướng họa thơ cách đây đã 43 năm.
Bộ trưởng Phan Anh - Ảnh: wiki
Theo Báo Cứu Quốc, tại Hội nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 21, họp ngày 6/3/1971, đã quyết định triệu tập Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào cuối năm đó. Nhân dịp này, Bộ trưởng Phan Anh, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã làm bài thơ xướng theo thể Đường luật in trên Báo Cứu Quốc số 3529, ra ngày 21/3/1971. Bài thơ xướng như sau:
CÂY CAO BÓNG CẢ
Cây cao bóng cả ấy ai trồng?
Ngọn vút trời cao, gốc biển Đông
Cành, lá đỏ tươi hoa chiến sĩ
Vóc, mình vững chắc rễ công nông
Xua tan giông tố, chùn Tây, Mỹ
Đổi mới non sông, thắm Lạc Hồng
Điệp điệp trùng trùng che đất nước
Cây đây, rừng đó, Bác ta trồng.
Để lập thành tích chào mừng Đại hội, trên cơ sở bài thơ CÂY CAO BÓNG CẢ của Bộ trưởng Phan Anh, Báo Cứu Quốc mở cuộc họa thơ với mục đích ca ngợi Mặt trận đã đoàn kết các tầng lớp, các dân tộc trong cả nước một lòng chống ngoại xâm và nhằm động viên nhân dân ta thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Cuộc họa bài thơ CÂY CAO BÓNG CẢ trên Báo Cứu Quốc bắt đầu từ ngày 21/3/1971 và kết thúc trong dịp Đại hội lần thứ III, họp từ 14 đến ngày 17/12/1971, được người yêu thơ các giới hưởng ứng tham gia. (Những địa danh và tên tác giả trong bài này đều chép lại thời điểm năm 1972).
Tính từ thời điểm phát động cho đến khi kết thúc, đã có 1.324 lượt tác giả, gửi tới Tòa soạn 1.699 bài (có tác giả gửi nhiều bài). Số tác giả nữ có 117 người.
Các tác giả tham gia họa thơ thuộc nhiều tầng lớp trong xã hội và nhiều lứa tuổi khác nhau, từ người nhiều tuổi nhất là cụ Dương Học Hải, 89 tuổi (ở Đống Đa, Hà Nội), đến các cháu thiếu niên học sinh phổ thông, các cụ phụ lão, xã viên các HTX nông nghiệp, thủ công nghiệp, các nhà trí thức, giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, giáo viên các cấp, cán bộ giảng dạy và học sinh đại học, công nhân xí nghiệp, nhà máy hầm mỏ, đồng bào theo đạo Thiên Chúa, các vị linh mục, các vị hòa thượng, thượng tọa, mục sư đạo tin lành, tu sĩ, cán bộ nhiều cơ quan trung ương và địa phương, những người làm nghề cá thể, chiến sĩ và sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, các cụ lang Đông y, các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp, Việt kiều, lưu học sinh và cán bộ đang công tác ở nước ngoài, cả chiến sĩ đang chiến đấu trên tiền tuyến lớn v.v.
Hưởng ứng việc làm vô cùng ý nghĩa của Cứu Quốc, lúc bấy giờ dù rất bận công tác ở Pháp, Bộ trưởng Xuân Thủy cũng đã gửi về Tòa soạn bài thơ họa:
“Muôn năm ơn Bác khéo vun trồng
Cây cả nên rừng rợp biển Đông
Cành Bắc, cành Nam, hoa Thống Nhất
Ngọn gươm, ngọn giáo gốc công nông
Xâm lăng quét sạch, chồi xanh thắm
Xã hội vươn cao, trái đỏ hồng
Đoàn kết, đẹp thay Vườn Tổ quốc!
Muôn năm ơn Bác khéo vun trồng”.
Tòa soạn đã cố gắng dành chỗ công bố được nhiều bài thơ họa, để nhiều người nói lên được tấm lòng của mình đón mừng Đại hội Mặt trận. Nhưng do số trang báo có hạn, cho nên Cứu Quốc cũng mới chỉ đăng được 304 bài, tức ngót một phần năm số bài mà Tòa soạn nhận được…
Cuộc họa thơ đón mừng Đại hội ở nhiều nơi đã thành một sinh hoạt tập thể. Các cụ ở các tổ phụ lão những khu phố Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa… ở Hà Nội đã đóng góp một số khá lớn trong số 390 bài của các tác giả ở Thủ đô. Các cụ ở Hải Phòng cũng đóng góp với một tỷ lệ như vậy trong số 153 bài của Hải Phòng v.v. Riêng các tác giả là dân tộc Tày ở tỉnh Cao Bằng đã góp 93 bài… Công đoàn Thư viện Khoa học xã hội ở Hà Nội đã có sáng kiến chép bài thơ xướng CÂY CAO BÓNG CẢ rồi dán lên báo tường để mọi người xem. Sau đó, một số anh chị em ở đó đã làm bài thơ họa dán lên báo tường (cụ Ca Văn Thỉnh, Giám đốc Thư viện cũng làm một bài).
Trong số hơn 1.600 bài mà Cứu Quốc nhận được, có hơn 300 bài hoặc hoàn toàn làm không đúng luật thơ Đường tám câu, hoặc thất luật, thất niêm. Trong thư gửi Tòa soạn, ông Lê Văn, cán bộ Mặt trận (xã Yên Phụ, Yên Phong, Hà Bắc) viết: “Nói đến luật thơ Đường thì niêm, luật, ý, lời thật là khe khắt nên cũng ngập ngừng sợ sai sót. Nhưng không. Với nhiệt tình thì cứ làm. Thật là điếc không sợ súng”. Ông đã gửi bài tới Tòa soạn và còn cho biết thêm: “Ở xã, sau khi chúng tôi nhận được tờ Cứu Quốc, anh em chúng tôi tọa đàm với nhau rồi xuống các tổ phụ lão… Cụ ông cũng họa, cụ bà cũng họa… Có một điều đáng chú ý ở đội trồng cây hợp tác xã Yên Sơn có 51 cụ thì cả 51 cụ đều nhớ câu cuối của bài xướng: Cây đây, rừng đấy, Bác ta trồng”. Cứu Quốc chia sẻ với những tác giả nhiệt tình và trân trọng đối với những bài họa không đúng luật, cả với những bài đề là “thơ họa” nhưng có những câu dài 11 chữ: “Vườn cây Mặt trận Dân tộc Thống nhất Bác Hồ trồng”…
Nhiều tác giả gửi thư tới Tòa soạn hoan nghênh bài thơ xướng của Bộ trưởng Phan Anh nhưng cũng nói là vần của bài xướng “hắc búa” quá. Vì có hai vần trồng nên có nhiều tác giả họa theo thể thủ vĩ ngâm. Có một số tác giả nói rõ ý mình là muốn họa khác vần trồng ở câu kết (câu thứ 8). Có tác giả, như ông Vũ Văn Quế, Việt kiều ở Luân Đôn, họa chệch mấy vần nhưng bài họa của ông là một bài thơ Đường 8 chữ đúng luật, có tứ độc đáo, lại là lời phát biểu của một người con xa Tổ quốc gửi về đón mừng Đại hội, nên Tòa soạn cũng đã cho đăng.
Dưới đây xin điểm về một số thơ họa, qua các vần.
Vần trồng ở câu phá đề (câu 1):
Vần này đúng là “hắc búa” như nhiều tác giả nói, vì chữ trồng chỉ có một nghĩa. Nhưng với nhiệt tình cao, với lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng, Hồ Chủ tịch, Mặt trận, các tác giả đã có nhiều ý phong phú trong cả câu. Nhiều tác giả đề cập thẳng đến vần đề Mặt trận ngay từ câu này. Bạn Nguyễn Cung Mạc (Hà Nội) viết: “Kìa cây Đoàn kết Bác ta trồng”. Ông Đào Văn Định, ở thành phố Nam Định: “Trí thức ngày nay Bác khéo trồng”. Cụ Đông Thành Nguyễn Văn Tuy, ở khu Hoàn Kiếm, Hà Nội: “Rừng cây “Phụ lão” Bác ta trồng”.
Nhiều tác giả đề cập đến công ơn vĩ đại của Hồ Chủ tịch đối với dân tộc ta. Cụ Hoàng Hưng Tuân (dân tộc Tày, tỉnh Cao Bằng) viết: “Pác Bó nêu cao dấu Bác trồng”. Kỹ sư thủy sản Liêu Hải Phong (Hoa kiều, 68 Hàng Buồm, Hà Nội): “Bác Hồ trồng trước đến dân trồng”. Bạn Mai Xuân Đào (xã Quảng Sơn, Quảng Bình): “Dạo gót năm châu chọn giống trồng”…
Có những tác giả vào đề bài thơ như dâng thành tích của ngành mình lên mừng Đại hội sắp tới. Chị Phương Thị Thanh Điệp (HTX nông nghiệp Đại Thắng, Phú Xuyên, Hà Tây) viết:
Bèo dâu ai đó khéo ươn trồng
Nhân mãi màu xanh tiếp biển Đông.
Chị Nguyễn Thị Hồng (Ban Chấp hành Phụ nữ xã Hải Hà, Hải Hậu) vừa nói lên công ơn Hồ Chủ tịch, vừa nói lên sự trưởng thành của phụ nữ nước ta:
Liễu yếu đào tơ Bác khéo trồng
Cũng thành tùng, bách trấn trời Đông.
Bạn Vũ Văn Thành, cán bộ giảng dạy (ĐHSP Hà Nội 2): “Đội ngũ thầy, cô gắng sức trồng”. Bạn Văn Luận (HTX vôi ngói, Hòn Gai): “Mã Lương lớp trẻ Bác vun trồng”. Em Đỗ Thị Thu Hà (lớp 7A trường cấp II, xã Hải Hà, Hải Hậu):
Hàng cây non ấy Bác Hồ trồng
Nay đã thành rừng trắc cõi Đông.
Một ý khá độc đáo được bạn Lã Trọng Minh (Bộ Kiến trúc) nêu lên bằng cách liên hệ bản thân:
Tôi như cây cối được vun trồng
Hớn hở phô màu đón rạng đông.
Vần “Đông”:
Chữ đông cũng ít nghĩa. Nhiều tác giả dùng chữ “Biển Đông”, như bạn Hoàng An (Chợ Con, Hải Phòng): “Sức mạnh đào non, lấp biển Đông”. Bạn Thanh Tịnh (ĐHSP Việt Bắc): “Sức mạnh dời non, lấp biển Đông”… Phần lớn vần “đông” trong các bài họa đều có nghĩa là phương Đông. Cụ Nguyễn Thị Ất (Hà Nội):
Khí thiêng Tổ quốc đã vun trồng
Hồ Chí Minh ngời sáng cõi Đông.
Nhà văn Nguyễn Hải Trừng viết: “Một bức trường thành trấn cõi Đông”. Ông Vương Tô Văn, Chủ tịch MT huyện Ba Chẽ, Quảng Ninh: “Việt Nam xanh mát cõi trời Đông”.
Nhiều vần “đông” khác có nghĩa là đông đúc. Cụ Lê Hào (Hà Nội): “Mặt trận sum vầy đủ loại đông”. Chị Phạm Thị Đức Phương (ĐHSP Hà Nội) viết: “Cho bao thế hệ cháu con đông”. Bạn Đức Chính (Hải Phòng): “Chí vững gan bền sức lại đông”…
Vần “đông” còn được dùng theo nghĩa “mùa đông”. Cụ Hoàng Bá Chuân (64, Hàng Bạc, Hà Nội) viết: “Dầu dãi sương hè với tuyết đông”. Bạn Nguyễn Báu (Cục Hậu cần, Công an Nhân dân võ trang):
Bác chắc từ khi bới đất trồng
Cây xuân này sẽ chắn mùa đông.
Một số khá nhiều tác giả như bạn Nguyễn Trọng Tuất (ĐHSP Vinh) dùng vần “đông” để nói lên một chiến thắng lớn của quân và dân hai nước anh em Việt - Lào: “Đường 9, Khe Sanh tới Bản Đông”…
Vần “nông”:
Có một bạn họa thơ nói vui với chúng tôi: “Hai câu thực (câu 3 và 4) của bài họa kỳ này thực là gay vì vần nông”. Vần nông được tuyệt đại đa số dùng theo hai nghĩa thông thường của nó là nông nghiệp (công nông) và nông sâu. Nắm vững điều luật họa thơ Đường 8 chữ là chỉ được họa lấy một chữ vần của mỗi vần, không được lấy cả chữ đứng liền trước vần đó, cụ Chi Phương Nguyễn Hữu Hàm (Lâm Thao, Vĩnh Phú) đã họa một bài theo đúng điều luật đó. Nhưng, cụ viết trong thư gửi Tòa soạn: “…Tôi lại họa thêm một bài nữa. Bài này tôi “chịu vần” của tác giả. Bài đó có hai câu thực như sau:
Dẫu quả là phần chung đất nước
Mà mầm bắt rễ tự công nông.
Thực tế, rất nhiều bài thơ đã “chịu vần” của bài xướng như vậy. Nhưng vì mấy vần của bài họa “hắc búa” như nhiều bạn nói, Cứu Quốc đã phải chú ý nhiều đến nội dung chính trị, đến tứ thơ hay, đến chữ dùng đắt… của toàn bài và do đó đã đăng lên báo cả những bài có “chịu vần” như vậy.
Một số tác giả, như bạn Mai Thanh Thụ (Cục Truyền thanh) dùng một từ khác: “Tầm vông dám chống cự ca nông”. Bạn Lê Huy Điệp (khu tập thể Nguyễn Công Trứ, Hà Nội): “Cây cỏ từng xua tụi ủy, nông” (ủy, nông tiếng Pháp: vâng, không). Trong tất cả ngót 1.700 bài họa, có một bài của bạn Mai Lâm, Hà Nội, đã họa vần đó một cách duy nhất thật độc đáo:
“Hợp sức công, nông, binh, trí thức
Họp đàn Kinh, Thượng, Khạ, Mơ Nông”.
Vần “hồng”:
Các tác giả thường họa vần này theo những nghĩa đen, nghĩa bóng thông thường của chữ hồng hoặc theo nghĩa Lạc Hồng, sông Hồng… Cụ Trần Trọng Thưởng (Mỹ Đức, Hà Tây) viết:
Trời đất nể gan dòng giống Lạc
Giang sơn tỏ mặt cháu con Hồng.
Bạn Quý Yến (Tổng cục Lâm nghiệp), nhà thơ Đoàn Văn Cừ đã dùng vần “hồng” mà vẽ nên những bức tranh đẹp:
Phi lao lá hạ thêu rèm biếc
Dương liễu cành xuân dệt năng hồng.
(Quý Yến)
Đường quê bãi dệt vùng pha biếc
Xưởng máy lầu tô tía lẫn hồng.
(Đoàn Văn Cừ)
Chị Song Yên (giáo viên ở Hòn Gai) dùng hai chữ chị Hồng (tức nữ Anh hùng Lê Thị Hồng Gấm) để họa vần này. Một số tác giả như Thượng tọa Thích Linh Quang (chùa Phúc Hà, Ninh Bình), cụ lang Đông y Phạm Văn Thơ (Chợ Đồn, Ý Yên), bạn Lê Cảnh (Hương Sơn, Hà Tĩnh) đã dùng chữ hồng với ý nghĩa là loài chim hồng: “Cờ đỏ vàng sao thẳng cánh hồng” (cụ Phạm Văn Thơ). Cụ Ca Văn Thỉnh cũng dùng chữ hồng như vậy để nói lên lực lượng của nhân dân ta:
Sức dời non biển kinh hồn địch
Chí bạt trời mây vút cánh hồng.
Một số tác giả khác đã dùng chữ Diên Hồng, chữ này đã có nhiều bạn đọc nhận xét là dùng rất đắt. Chị Hà Đào Chi (ĐHSP Hà Nội 2) viết:
Nối chí cha ông thời Kiếp Bạc
Góp mưu trăm họ thuở Diên Hồng.
Bạn Trần Ngọc Lâm (285, Hoàng Văn Thụ, Nam Định):
Sát thát diệt Nguyên, hồn Kiếp Bạc
Khí thiêng chống Mỹ, lửa Diên Hồng.
Bạn Nguyễn Chi (Khoa Toán, ĐHSP Hà Nội 2) viết trong một bài họa theo kiểu “sang sợi” - lấy 8 chữ “Chúc Đại hội Mặt trận đại thành công” làm 8 chữ đầu 8 câu của bài thơ họa:
Trận tuyến đó, mài gươm Kiếp Bạc
Đại doanh đây, bàn kế Diên Hồng.
Vần “trồng” ở cuối bài:
Vần này cũng như vần “trồng” ở câu thứ nhất của bài thơ xướng, chỉ có một nghĩa. Nhưng nhiều tác giả cũng đã làm cho câu kết của bài họa có những ý độc đáo, đặc biệt là nêu bật được lòng biết ơn của mình đối với Hồ Chủ tịch, Đảng và Mặt trận. Cụ Nguyễn Văn Kỳ (Lâm Thao, Vĩnh Phú) viết:
Cao ngút non sông, ngăn sóng gió
Đi đâu cũng thấy bóng cây trồng.
Bạn Nguyễn Xuân Tạo (Hòm thư 740.492.JB03): “Bác nghĩ, chúng ta tiếp tục trồng”. Bạn Nguyễn Như Tiêu (huyện Xin-ma-cai, Lai Châu):
Gió lộng Trường Sơn hòa bốn biển
Bác còn sống mãi với cây trồng…
Ngoài những bài thơ họa theo kiểu thông thường, có một số tác giả họa theo kiểu “sang sợi” (như bạn Nguyễn Chi, đã kể ở trên). Cụ Áng Hải (49, Hàm Long, Hà Nội) lấy 8 chữ “Chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc” làm đề tài. Bạn Như Môn (Nhà máy cơ khí 1 - 5 Hưng Yên) lấy 8 chữ “Cây cao bóng cả, Bác Hồ vun trồng”. Các bạn Trường Thiên (Ty Thông tin Sơn La), Lê Như Sâm (khu tập thể Nguyễn Công Trứ, Hà Nội), bạn Nguyễn Thế Canh (Ủy ban Nông nghiệp Trung ương) không hẹn mà gặp, cùng chọn 8 chữ: “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại”. Trong số những tác giả họa nhiều bài “sang sợi”, còn có cụ Lê Công Hợp (43, phố Cầu Gỗ, Hà Nội), ông Nam Hùng (12, Hàng Dầu, Hà Nội), chị Lê Thị Tuất (công nhân Nhà máy điện khí Thống Nhất) v.v…, còn có một số tác giả họa theo kiểu “thuận nghịch độc” (một bài đọc xuôi, một bài đọc ngược bài trên), họa bằng chữ Hán, họa theo thể thơ ngũ ngôn, họa theo thể song thất lục bát, v.v.
Trong khuôn khổ một bài báo, chúng tôi không thể điểm hết trăm sắc trăm hương của cả Vườn thơ Đoàn kết đón chào Đại hội lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà đông đảo các cụ, các bạn đã chung sức chung lòng cùng trồng nên. Những câu thơ trích dẫn trong bài này cũng chưa phải là tất cả những câu điển hình nhất. Còn nhiều câu thơ hay, bài thơ hay cả về tứ, về chữ dùng, cả về kết cấu của bài, nói lên được sức mạnh của khối Đại đoàn kết của toàn dân tộc, lòng biết ơn của toàn dân ta đối với Hồ Chủ tịch, người sáng lập ra Mặt trận Dân tộc Thống nhất, mở đường thắng lợi cho cả nước, lòng biết ơn đối với Đảng lãnh đạo, ý chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội của toàn dân ta… Những bài thơ đó dù không có dịp đăng lên báo nhưng chúng tôi nghĩ đó cũng là những đóa hoa tươi đẹp đã góp vào Vườn thơ Đoàn kết để đón chào Đại hội.
Nhân dịp này Bộ trưởng Phan Anh đã gửi tới Cứu Quốc một lá thư với nội dung sau: “Cuộc xướng họa thơ do quý báo tổ chức đã kết thúc thắng lợi trong niềm tin tưởng sắt đá vào sức mạnh đại đoàn kết vô cùng to lớn của Mặt trận Dân tộc Thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, bảo đảm sự thực hiện Di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch kính mến, giải phóng miền Nam, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, góp phần đắc lực vào cách mạng thế giới. Để tỏ lòng hâm mộ đối với các cụ, các bạn đã tham gia cuộc họa thơ và cảm ơn báo Cứu Quốc đã tổ chức cuộc xướng họa, tôi xin có mấy vần lấy đầu đề là: Ba cây chụm lại”.
BA CÂY CHỤM LẠI
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Núi cao nguồn nước dạt dào,
Rừng thơ hoa nở trăm màu, trăm hương.
Thật là giá đáng thịnh Đường
Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu!
Giá gương lồng phủ nhiễu điều,
Diễn đàn Cứu Quốc bao nhiêu hẹn hò!
Bắc - Nam một dải cơ đồ,
Cùng nhau nối gót Bác Hồ trồng vun.
Sao cho chung một trời xuân,
Núi sông vang dậy muôn vần thơ ca!
Rồi ra ta lại gặp ta,
Ấy là hứa hẹn, ấy là ước mong.
Muôn đội ơn lòng.
Cứu Quốc chân thành cảm ơn Bộ trưởng Phan Anh đã góp phần tốt đẹp vào cuộc họa thơ này. Đối với tất cả các tác giả đã có thơ họa gửi đến Vườn thơ Đoàn kết, Cứu Quốc xin phép dùng câu kết của Bộ trưởng Phan Anh trong bài thơ BA CÂY CHỤM LẠI đăng trên số báo ngày 16/12/1971, để nói lên ý nghĩa sâu sắc của chúng tôi: Muôn đội ơn lòng!
D.P.T
(Nguồn: Báo Cứu Quốc các số: 3529/1971, 3572/1972)
(SDB13/06-14)
KHẾ IÊM
Tựa đề về cái chết của hậu hiện đại không có gì mới vì đã có khá nhiều bài viết bàn về vấn đề này, từ những đầu thập niên 1990. Nhưng bài viết đã phác họa cho chúng ta thấy đời sống văn hóa trong thời đại sau chủ nghĩa hậu hiện đại với sự xuất hiện những phương tiện công nghệ mới. Lạc quan hay bi quan, chúng ta chưa biết, nhưng rõ ràng những hệ tư tưởng cũ đang dần dần bị tàn phai nơi những thế hệ mới.
ALAN KIRBY
LTS: Alan Kirby nói chủ nghĩa hậu hiện đại đã chết và đã được chôn. Tới thế chỗ của nó là một hệ hình mới của thẩm quyền và kiến thức được hình thành dưới áp lực của những công nghệ mới và các lực lượng xã hội đương đại. Tựa đề bài tiểu luận, lần đầu tiên xuất hiện trên tạp chí Philosophy Now (Triết học Bây giờ) ở Anh, số 58, năm 2006, và sau đó được in trong cuốn “Digimodernism: How New Technologies Dismantle the Postmodern and Reconfigure Our Culture”, được Continuum xuất bản vào năm 2009.
LÊ QUỐC HIẾU
Trong các bộ phận của khoa nghiên cứu văn học Việt Nam hiện nay, không thể phủ nhận lý luận, phê bình là lĩnh vực có nhiều thay đổi rõ rệt. Một loạt những công trình nghiên cứu lịch sử lí luận, phê bình văn học “trình làng” trong những năm qua[1], đủ để nhận thấy tham vọng khái quát, đánh giá của các nhà nghiên cứu sau mỗi chặng đường phát triển của văn học.
THÁI KIM LAN
I.
Bài viết này được mở đầu bằng một trải nghiệm tự thân, từ chỗ đứng của chủ thể thực hành nói ra kinh nghiệm của mình, vì thế có thể gây ấn tượng về tính chủ quan. Sự trách cứ ấy xin nhận lãnh trước, nhưng xin được tạm thời để trong dấu ngoặc.
LUÂN NGUYỄN
Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai
(Mộ xuân tức sự - Nguyễn Trãi)
NGUYỄN KHẮC PHÊ
(Trích tham luận tại Hội thảo "Văn học trước yêu cầu đổi mới" tháng 12-1987)
BỬU CHỈ
Đã từ lâu tôi vẫn nghĩ và tin rằng: quê hương của nghệ thuật là Tự Do, và nghệ thuật đích thực phải thoát thai từ những con người sáng tạo có đầy đủ quyền làm người, cùng tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội của họ; và lớn hơn nữa là đối với con người.
LÊ QUANG THÁI
Năm Quý Tỵ đã trôi qua, Xuân Giáp Ngọ đã về:
Rắn trườn đã hết năm,/ Ngựa hay đưa Xuân về.(1)
ĐỖ LAI THÚY
Kìa ai chín suối xương không nát
Ắt hẳn nghìn thu tiếng vẫn còn
(Nguyễn Khuyến)
TRẦN HUYỀN TRÂN
Có lẽ, Cám dỗ cuối cùng của Chúa là cuốn tiểu thuyết nói về khoái lạc trần tục của Jesus một cách táo bạo nhất?
NGUYỄN DƯ
Hôm ấy bạn bè họp mặt ăn uống. Chuyện nổ như bắp rang. Tôi khoe mình đã từng ba lần đội trời đạp đất trên đỉnh đèo Hải Vân. Một bạn hỏi đèo Hải Vân có gì đặc biệt? Câu hỏi bất ngờ làm tôi cụt hứng. Ừ nhỉ… đèo Hải Vân có gì đặc biệt?
PHAN TUẤN ANH
“Lịch sử như là đem lại ý nghĩa cho cái vô nghĩa”
(T.Lessing)
Ngày nay, nhìn lại chủ trương cách mạng của Phan Châu Trinh cách đây hơn một thế kỷ, một lần nữa chúng ta lại thấy tầm nhìn của một người mang khát vọng Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh.
NGUYỄN THỊ TỊNH THY
Sau khi đọc bài trao đổi của Triệu Sơn trên tạp chí Sông Hương số 10/2013 về bài viết của tôi trên tạp chí Sông Hương số 8/2013, tôi xin có mấy ý trả lời như sau:
PHAN NGỌC
Trong quyển "Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều", tôi có dùng một số thuật ngữ chuyên môn. Trong phạm vi quyển sách tôi không thể trình bày kỹ cách hiểu của mình, cho nên có sự hiểu lầm. Giờ tôi xin trình bày kỹ hơn khái niệm "thức nhận", cơ sở của tác phẩm, để bạn đọc dễ đánh giá hơn.
YẾN THANH
Trong bài viết này, chúng tôi muốn nhìn nhận những cống hiến của GS.TS Lê Huy Bắc trên lĩnh vực khoa học, đây là những thành tựu mà theo chúng tôi, vừa có tính lan tỏa, lại vừa có tính bền vững. Bởi vì, có thể nhiều học viên, nhà nghiên cứu dù không trực tiếp được nhà khoa học giảng dạy, hướng dẫn, nhưng từ những công trình, bài báo khoa học, vẫn được kế thừa và chịu sự tác động từ người thầy đó.
TRIỆU SƠN
Bài này nhằm trao đổi với tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy về những bất cập của nghiên cứu, phê bình văn học hiện nay nhân đọc bài “Những bất cập và thái quá trong nghiên cứu văn học hiện nay” của tác giả trên Sông Hương, 294/08-13.
PHAN TRỌNG HOÀNG LINH
Được Bakhtin đề xuất trong công trình nghiên cứu về sáng tác của Frăngxoa Rabơle, thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực nghịch dị (grotesque realism) là sự định danh ước lệ cho một kiểu hình tượng đặc thù (hay phương pháp xây dựng hình tượng đặc thù) của nền văn hóa trào tiếu dân gian, kiểu hình tượng nghịch dị.
LTS: Phạm Phú Uyên Châu, bút danh Meggie Phạm, sinh năm 1991, hội viên trẻ nhất của Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, tác giả của bộ truyện dài liên hoàn do Nxb. Trẻ ấn hành: Hoàng tử và em (2011, tái bản 2011), Giám đốc và em (2011, tái bản 2012), Chàng và em (2012, tái bản 2012), Người xa lạ và em (2012) và Tôi và em (đang in).
ĐOÀN ÁNH DƯƠNG
Trong Điều kiện hậu hiện đại, Jean-Francois Lyotard cho rằng: “Bởi vì người ta không thể biết điều gì xảy ra cho tri thức, tức là sự phát triển và truyền bá nó hiện nay đang gặp phải những vấn đề gì, nếu không biết gì về xã hội trong đó nó diễn ra.